Thứ Tư, 31 tháng 8, 2016

Mua nhà máy đường của bầu Đức, chủ tịch Đặng Văn Thành “nhất tiễn hạ song điêu”

Những lợi ích khi sở hữu nhà máy đường ở Lào của bầu Đức (ông Đoàn Nguyên Đức – Chủ tịch tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai) là có thể nhìn thấy được với tập đoàn Thành Thành Công (TTC) của Chủ tịch Đặng Văn Thành.
Vừa qua, tờ Thời báo kinh tế Sài Gòn dẫn nguồn tin riêng cho biết Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) muốn bán nhà máy đường của mình tại Lào cho Tập đoàn Thành Thành Công (TTC) và hai bên đang có những buổi làm việc để bàn việc này.
Hiện TTC chưa có bình luận gì về thông tin này nhưng nguồn tin của Thời báo kinh tế Sài Gòn cho rằng hiện có hai phương án, đó là là HAGL bán lại một phần, hoặc bán toàn bộ nhà máy đường tại Lào cho TTC.
Cũng theo nguồn tin giấu tên trong ngành mía đường này, có thể trong tháng 9 tới đây, mọi thông tin sẽ được các bên liên quan công bố rộng rãi cho các cổ đông và công chúng.
Dễ dàng nhận thấy được lợi ích trước tiên của TTC khi mua nhà máy đường Lào của bầu Đức là việc đường từ nhà máy này nhập khẩu vào Việt Nam sẽ được hưởng ưu đãi theo quy định của Hiệp định Thương mại biên giới giữa Việt Nam và Lào ngày 27/6/2015.
Cụ thể, phía Việt Nam sẽ dành cho phía Lào ưu đãi thuế suất thuế nhập khẩu 0% cho một số loại hàng hóa có xuất xứ từ Lào và mặt hàng đường mía được hưởng ưu đãi này. Trong thực tế, một phần đường sản xuất tại Lào của HAGL đang được đưa về nước tiêu thụ, năm 2015 là 50.000 tấn. Năm nay, Bộ Công Thương cho phép nhập 30.000 tấn đường sản xuất ở Lào về Việt Nam tiêu thụ và qua năm 2017, con số này vẫn duy trì ở mức 30.000 tấn.
Còn nhớ vào năm 2013 khi bầu Đức công bố bán 30.000 tấn đường thô cho Công ty cổ phần Đường Biên Hòa với mục đích tinh luyện để xuất theo đuồng tiểu ngạch sang thị trường Trung Quốc, ngay lập tức thông tin này đã bị phản ứng dữ dội từ Hiệp hội mía đường Việt Nam. Tuy nhiên, một khi Thành Thành Công mua lại nhà máy đường của HAGL thì tất cả sẽ thành người một nhà nên các doanh nghiệp trong hiệp hội đường cũng khó mà phản ứng.
Sự tác động của nguồn đường Hoàng Anh Gia Lai sản xuất tại Lào lớn đến nỗi trong một văn bản kiến nghị gởi Bộ Tài chính hồi tháng 6, Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSC) cho rằng đây là sự ưu đãi quá mức so với sản xuất trong nước đối với mặt hàng đường, góp phần gây nên khó khăn cho sản xuất trong nước trong khi điều kiện sản xuất trong nước không được lợi thế như sản xuất tại Lào. Đó là chưa kể nếu không có sự kiểm soát nguồn gốc xuất xứ chặt chẽ thì mức độ tác động càng lớn hơn.
Một lợi ích nữa của TTC khi mua nhà máy đường của bầu Đức là gíup ngành kinh doanh mía đường của tập đoàn này tăng sức cạnh tranh với các đối thủ trong và ngoài nước. Qua đó gia tăng thị phần 30% ngành đường nội địa mà TTC đang nắm giữ.
Chia sẻ trong bài viết số tháng 3/2016 trên tạp chí Forbes Việt Nam, chủ tịch Đặng Văn Thành nói về định hướng phát triển giai đoạn 2016 – 2020 là đưa Thành Thành Công hội nhập ngành đường thế giới, có tiếng nói trong khu vực, sẵn sàng cạnh tranh sòng phẳng khi các Hiệp định tự do thương mại AFTA, TPP có hiệu lực.
“Chúng tôi tiến hành cải cách, sắp xếp, tổ chức lại ngành đường. Đó là 3 mắt xích vùng nguyên liệu – phương thức – sản xuất – thị trường”, ông Đặng Văn Thành cho biết trên Forbes Việt Nam.
Được biết trong tháng 5 và 6/2016, hai công ty thành viên của TTC là Thành Thành Công Tây Ninh (SBT) và đường Biên Hòa (BHS) đã phát hành tổng cộng 1.500 tỷ đồng trái phiếu cho 3 ngân hàng là TP Bank, VIB và OCB.
Mục tiêu của việc phát hành trái phiếu theo các lãnh đạo của SBT và BHS là nhằm có thêm nguồn vốn để tiếp tục phát triển bền vững với định hướng mục tiêu trở thành doanh nghiệp hàng đầu hoạt động trong ngành mía đường tại Việt Nam, đủ năng lực cạnh tranh với các đối thủ khác trong khu vực sau khi hội nhập tiếp tục duy trì thế chủ động trong ngành đường Việt Nam…
“Đường của Thái Lan chở tới biên giới nước ta chỉ 8.000 đồng/kg nhưng đường của Việt Nam từ nhà máy ra đã lên tới 12.400 đồng/kg. 1 tấn mía ở Thái Lan chỉ có 30 USD, của Hoàng Anh Gia Lai ở Lào chỉ từ 25 – 30 USD/tấn nhưng ở Việt Nam từ 45 – 55 USD/tấn”, GS.TS Võ Tòng Xuân – một chuyên gia nông nghiệp nhiều kinh nghiệm đã từng mạnh dạn chia sẻ quan điểm về thực trạng của ngành mía đường Việt Nam như trên.
Trong một bài viết đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương hồi năm 2015, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú từng chỉ ra rằng sức cạnh tranh của ngành mía đường Việt Nam đang có vấn đề xuất phát từ việc năng suất và chất lượng mía của Việt Nam rất thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, giá thành cao, hệ thống phân phối yếu, liên kết giữa các doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với nông dân còn lỏng lẻo…
Theo các nghiên cứu, Việt Nam hiện đứng trong nhóm 10 nước có diện tích trồng mía lớn nhất thế giới, nhưng trong nhóm 10 nước đó, năng suất mía của Việt Nam (64,7 tấn/ha) chỉ cao hơn năng suất của Pakistan và Indonesia. Còn lại, năng suất mía nước ta đang thấp hơn nhiều so với nhiều nước khác như Mỹ (75,41 tấn/ha), Brazil (74,3 tấn/ha), Thái Lan (74,23 tấn/ha).
Thực tế cho thấy, giá mía nguyên liệu sản xuất đường của Việt Nam từ 45 – 50 USD/tấn, các nước chỉ khoảng 30 USD/tấn. Trong khi tỷ lệ chi phí mía chiếm 75 – 80% trong giá thành đường.
Kết quả, giá đường nước trong nước thường ở mức 12.000 – 13.000 đồng/kg, trong khi giá đường nhập khẩu từ các nước chỉ dao động ở mức từ 9.000 – 10.000 đồng/kg. Đây chính là nguyên nhân đường trong nước không cạnh tranh được với đường thế giới, mặc dầu trình độ công nghệ không chênh lệch đáng kể.

Doanh nghiệp nên xây dựng quy chế, quy trình công bố thông tin công khai và minh bạch

Trước khi có báo cáo tài chính quý, lãnh đạo một số doanh nghiệp công bố ước tính lợi nhuận đạt được trong kỳ trên website công ty và/hoặc trên các phương tiện truyền thông (khi được phỏng vấn). Tuy nhiên, con số lợi nhuận này trong báo cáo tài chính được công bố sau đó thấp hơn nhiều so với con số ước tính, thậm chí thua lỗ, khiến giá cổ phiếu sụt giảm, gây thua lỗ cho nhiều nhà đầu tư. Xin hỏi, đây là hành vi “làm giá” cổ phiếu, hay hoạt động công bố thông tin, quản trị công ty có vấn đề?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể để xác định hành vi “làm giá” cổ phiếu và việc xác định hành vi “làm giá” thuộc thẩm quyền của cơ quan chức năng.
Về vấn đề này các nhà đầu tư nên lưu ý thông tin chính thống của doanh nghiệp phải được công bố qua phương tiện và người thực hiện như sau:
+ Phương tiện công bố thông tin (CBTT) của Doanh nghiệp (theo quy định Điều 5 Thông tư 155/2015/TT-BTC Hướng dẫn CBTT trên Thị trường chứng khoán – Phương tiện CBTT):
  • Trang thông tin điện tử (website) của Doanh nghiệp;
  • Hệ thống công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;
  • Trang thông tin điện tử của Sở Giao dịch Chứng khoán;
  • Các phương tiện thông tin đại chúng khác theo quy định pháp luật (báo in, báo điện tử..).
+ Người thực hiện CBTT (theo quy định Điều 4 Thông tư 155/2015/TT-BTC- Người thực hiện CBTT): tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ CBTT thông qua 01 người đại diện theo pháp luật hoặc 01 cá nhân là người được ủy quyền CBTT của tổ chức đó.
Do đó, các thông tin công bố từ những phương tiện, người không thuộc thẩm quyền, các nhà đầu tư nên cân nhắc khi tham khảo ra quyết định đầu tư.
Về phương diện Doanh nghiệp, Doanh nghiệp nên xây dựng quy chế, quy trình CBTT trong đó đảm bảo các cổ đông có quyền được tiếp cận thông tin như nhau, công khai minh bạch, có phương án xử lý các tình huống CBTT (tin đồn, thông tin không tốt ảnh hưởng đến giá chứng khoán…) và đặc biệt có hướng dẫn, lưu ý đến phát ngôn của những lãnh đạo có ảnh hưởng.

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

Nhà nước sẽ không bán bia, bán sữa

Vậy là Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã quyết định chính thức: phải bán tiếp cổ phần nhà nước tại Tổng công ty cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco), Tổng công ty cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội (Habeco), Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk)Không còn bất cứ sự phân vân nào quanh khoản lợi nhuận khổng lồ mà các doanh nghiệp có vốn nhà nước chiếm đa số này đang tạo ra cho ngân sách nhà nước.
Nghĩa là, giá trị vốn nhà nước thu về từ tái cơ cấu các doanh nghiệp sẽ thực sự tăng lên khi những món hàng “chất lượng” sẽ được bán. Một mũi tên sẽ trúng hai đích. Một là, đảm bảo thực hiện được mục tiêu phân bổ lại nguồn lực của kinh tế nhà nước nói riêng, của nền kinh tế nói chung. Hai là, doanh nghiệp nhà nước sẽ trở về đúng vị trí của nó.
Thực tế, tính lũy kế từ năm 2012 đến tháng 10/2015, cả nước thoái được 16.450 tỷ đồng, thu về 22.870 tỷ đồng (bao gồm cả thoái vốn đầu tư ngoài ngành). Con số này chỉ tương đương 2% tổng giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trong cùng thời kỳ.
Thậm chí, các nghiên cứu cũng cho thấy, một số doanh nghiệp về thực chất chỉ là chuyển đổi hình thức từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần khi tỷ lệ bán cổ phần ra cho tư nhân chỉ rất nhỏ; hoặc không có các nhà đầu tư chiến lược đủ mạnh để thay đổi cơ chế quản trị doanh nghiệp; hoặc các đối tác mua cổ phần lại là những doanh nghiệp nhà nước, tức là xét riêng là các doanh nghiệp cổ phần nhưng xét chung trong hệ thống sở hữu chéo nhau giữa các doanh nghiệp này thì cả nhóm lại là doanh nghiệp nhà nước.
Ngay cả trong các năm 2013 – 2014, dù tốc độ cổ phần hóa có tăng lên, nhưng số doanh nghiệp có từ 50% vốn nhà nước trở lên hầu như không giảm đáng kể. Hệ quả là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không làm giảm sự can dự của Nhà nước vào nền kinh tế như mục tiêu của nó, thậm chí, tình trạng còn nặng hơn khi quan hệ thân hữu giữa doanh nghiệp với quan chức nhà nước vẫn tiếp tục được duy trì ngay cả khi doanh nghiệp đã được cổ phần hóa…
Cũng phải nhắc lại, tháng trước, khi làm việc với Bộ Công thương về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong ngành, người đứng đầu Chính phủ đã kiên quyết giữ quan điểm, việc nào thị trường làm tốt hơn thì để thị trường tự vận động, Nhà nước chỉ tập trung vào những việc mà thị trường làm không tốt.
Lần này, Thủ tướng nhấn mạnh, chống lợi ích nhóm trong hoạt động cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp để đảm bảo lợi ích cao nhất của đất nước.
Mọi việc đã rõ ràng, thậm chí cả cách thức thực hiện cũng được xác định rất rõ ràng. Với việc bán vốn nhà nước tại Vinamilk và các doanh nghiệp khác mà Tổng công ty Đầu tư vốn và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) làm đại diện chủ sở hữu nhà nước, sẽ thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán. Với việc bán vốn nhà nước tại Habeco và Sabeco là những doanh nghiệp đã cổ phần hóa nhưng chưa niêm yết, phải tiến hành niêm yết trên thị trường chứng khoán trước khi bán vốn nhà nước. Việc định giá cổ phần phải tổ chức đấu thầu công khai để lựa chọn đơn vị tư vấn uy tín, có năng lực, kinh nghiệm, tránh trường hợp định giá không sát, không đúng, làm thất thoát phần vốn nhà nước.
Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ đạo, khi bán cổ phần tại các doanh nghiệp này, phải đấu giá cạnh tranh, không phân biệt đối tác trong nước và nước ngoài, giá trị quyền sử dụng đất tính riêng. Đồng thời, có biện pháp pháp lý để giữ các thương hiệu quốc gia như bia Sài Gòn, bia Hà Nội, Vinamilk sau khi bán vốn nhà nước. Toàn bộ quá trình này sẽ do Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp giám sát.
Phát súng lệnh của Thủ tướng Chính phủ đã bắn ra, chắc chắc, công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đang bị đánh giá là tiến hành chậm, thiếu thực chất sẽ có bước chuyển lớn.
Nguồn: ST

Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2016

Cổ đông nhỏ muốn công ty sửa điều lệ, cách nào?

Theo Luật Doanh nghiệp, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có quyền đề cử người vào hội đồng quản trị và ban kiểm soát. Vậy các cổ đông nhỏ muốn công ty sửa Điều lệ, trong đó quy định tỷ lệ sở hữu trên là 5% thì phải làm gì?

Chuyên gia Tư vấn trả lời như sau:
Theo quy định tại Điểm đ, Khoản 2, Điều 135, Luật Doanh nghiệp 2014, quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Vì vậy, khi các cổ đông muốn sửa đổi nội dung trên trong Điều lệ công ty, các cổ đông nên gặp mặt, trao đổi, đề xuất với hội đồng quản trị xem xét, quyết định đưa vấn đề trên vào nội dung biểu quyết tại đại hội đồng cổ đông gần nhất.
Trường hợp khác, cổ đông có thể tập hợp nhau lại để đủ tỷ lệ sở hữu 10% và đề xuất kiến nghị nội dung trên vào chương trình họp Đại hội đồng cổ đông theo quy định tại Khoản 2, Điều 138, Luật Doanh nghiệp 2014 -Chương trình và nội dung họp đại hội đồng cổ đông: cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty có quyền kiến nghị vấn đề đưa vào chương trình họp đại hội đồng cổ đông. Kiến nghị phải bằng văn bản và được gửi đến công ty chậm nhất 3 ngày làm việc trước ngày khai mạc, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định thời hạn khác. Kiến nghị phải ghi rõ tên cổ đông, số lượng từng loại cổ phần của cổ đông hoặc thông tin tương đương, vấn đề kiến nghị đưa vào chương trình họp.

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016

Hàng Tồn Kho – hot girl của năm 2016!


Hoa hậu ư? Tấm Cám ư? Hoàng Xuân Vinh và những câu chuyện về súng ư? Không, người đẹp họ Hàng tên Tồn Kho mới là người đang làm điên đảo trên các mặt báo, làm nát tan trái tim cũng như túi tiền của bao con người. Rất nhiều câu hỏi được đặt ra và hầu hết những câu hỏi đó đều không có được câu trả lời thoả đáng và người ta chỉ còn biết ngửa mặt lên trời thốt lên “tại sao”.
Hàng Tồn Kho, đúng vậy, với việc mang họ Hàng, mọi người đều có thể hiểu mơ hồ em nó làm nghề gì – Ad thích suy nghĩ của các bạn nhưng Ad không nghĩ vậy, và dường như mục tiêu tối thượng của em nó đó là tạo ra tiền cho người chủ của mình. Có rất nhiều thứ được gọi là Hàng Tồn Kho như nguyên vật liệu, sản xuất dở dang, thành phẩm và có thể là hàng hoá và được hình thành ở nhiều định dạng khác nhau như dạng lỏng, rắn, khí. Có một điều kỳ thú rằng đối với ông A, em nó sẽ có thể được gọi là Hàng Tồn Kho, với ông B có khi em nó lại trở thành tài sản cố định. Cho dù em nó ở dưới dạng nào thì em nó đều có một giá trị giống nhau đó là việc tạo ra tiền cho người chủ của mình trong tương lai.
Để có được em, không phải dễ dàng gì nếu thực sự em là hàng hót, được nhiều người mong muốn sở hữu và sẵn sàng trả tiền để sở hữu em nhằm thoả mãn nhu cầu của mình, người chủ sở hữu sẽ phải vận dụng rất nhiều kiến thức và mối quan hệ của mình cũng như những chiêu trò trong kinh doanh để có thể sở hữu được em nó với chất lượng tốt nhất và rẻ nhất có thể. Với nhiều em, người chủ thực sự sẽ phải lao động cật lực, thuê nhiều trai tráng khoẻ mạnh, máy móc hiện đại để nuôi lớn, thẩm mỹ viện cho em sao cho lúc nào cũng sẵn sàng phục vụ với công suất cao nhất và cập nhật công nghệ mới nhất và được nhiên giá thành hợp lý nhất và chờ cho đến ngày có thể mang em ra chợ bán.
Bởi em là một loại Hàng có giá, người chủ luôn sợ rằng có ai đó sẽ lấy trộm mất em Tồn Kho của mình, do vậy họ thuê những trai tráng khoẻ mạnh bảo vệ em nó 24/24 nhằm tránh trường hợp bị ai đó tòm tem. Bất cứ một sự di chuyển nào đều phải có sự giám sát của các chàng trai này cũng như phải có chữ ký trên phiếu xuất nhập với ngày giờ, chủng loại và số lượng em được xuất ra và nhập vào. Tuy nhiên, với việc để các trai tráng khoẻ mạnh ở với em gái hàng hót như vậy những người chủ thực sự họ cũng không an tâm lắm, bởi họ nghi ngờ ngay chính những người mình thuê, và để kiểm soát việc đó, họ lắp đặt một hệ thống quản trị và kiểm soát em nó với những tần suất giám sát liên tục, kiểm tra chéo cũng như tiến hành đếm vật lý định kỳ để xem em nó có bị lạc hậu, quá tuổi hoặc bề ngoài bị xây xước hay không.
Chưa đủ an tâm với hệ thống mình thiết lập, các ông chủ còn thuê hẳn một đội chuyên nghiệp từ các công ty được phê duyệt của chính quyền thường niên đến để kiểm tra tình trạng của hệ thống kiểm soát của mình cũng như thực trạng các em đó tại thời điểm cuối năm nhằm đảm bảo không có em nào bị mất, thất lạc hoặc hỏng hóc và được ghi nhận đúng giá trị của em nó tại thời điểm cuối năm.
Quy trình là vậy, kiểm soát là vậy thì tại sao lại có quá nhiều ông chủ trong những ngày qua sốc với việc biến mất một cách ly kỳ như vậy? Có rất nhiều giả định có thể xảy ra với việc một hot girl đột nhiên mất tích như em Tồn Kho.
Trường hợp 1: Em nó đã bị ai đó lấy trộm mất
Đây có thể là vấn đề về hệ thống kiểm soát nội bộ của ông chủ khi hệ thống đó không hoạt động hiệu quả khiến cho các trai tráng tranh thủ lúc ông chủ không để ý và chôm chỉa em Tồn Kho về sử dụng riêng hoặc họ không kiểm soát việc vào ra theo từng đối tượng. Nếu các thanh niên kiểm toán thuê ngoài thấy em nó trọng yếu và phát hiện trong việc kiểm kê vật lý tại ngày kiểm toán thì việc mất mát này chắc chắn sẽ được phát hiện, còn nếu em nó nhỏ quá, có thể các anh ấy không thèm để mắt tới theo chuẩn mực. Tuy nhiên, nếu các anh ấy được thuê với giá rẻ hoặc có mối quan hệ với ông chủ, thì nhiều khi việc xem xét lỗ hổng trong hệ thống kiểm soát được bỏ qua.
Trường hợp 2: Em nó đã bị chính ông chủ của mình bán đi nhưng không ghi nhận trên sổ sách
Rất nhiều em Tồn Kho với biệt danh Cà Phê, Ngũ cốc và nguyên vật liệu được các anh chủ xử lý theo phương pháp này. Em nó vẫn còn đó trên sổ nhưng cơ thể em nó đã được trao cho người khác và thu lợi về riêng cho các ông chủ. Họ không ghi nhận doanh thu, họ thu tiền vào túi riêng của mình và tránh được rất nhiều thuế. Hệ thống kiểm soát của các anh chủ lúc này đương nhiên là không thể hoạt động hiệu quả vì anh ấy đã tắt nguồn đi rồi. Đối tượng còn lại phải xử lý đó là các kiểm toán viên thuê ngoài. Và rất nhiều người sử dụng chiêu trò rằng nếu không đồng ý với cái đó thì tôi thay người khác hoặc mua ý kiến các anh ấy cho mục đích cầm cố gái xinh Tồn Kho ở ngân hàng.
Rất nhiều ngân hàng đã nếm trái đắng khi được cầm những hot girl nhưng thực tế em nó đã lên đường và khi nhìn vào thực tại, hot girl Cà Phê đâu không thấy, chỉ còn mùn cưa, vỏ trấu và những chất độn.
Trường hợp 3: Hệ thống quản lý, kiểm soát hoạt động không hiệu quả
Việc không sử dụng các công nghệ hiện đại để quản lý và kiểm soát hoặc có sử dụng nhưng không tuân thủ đúng quy trình và các hệ thống phòng thủ không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả (kiểm soát, kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập) sẽ là nguyên nhân dẫn tới những sai lệch về hàng tồn kho. Sẽ có rất nhiều trường hợp trớ trêu xảy ra như hàng không còn nhưng vẫn còn trên hệ thống, không còn số lượng nhưng vẫn còn giá trị, giá trị và số lượng bị âm, râu ông nọ cắm cằm bà kia, và đơn giá của từng em cao hoặc thấp ở mức không hợp lý. Ai cũng có thể có sai sót, nhưng khi các tấm lưới giám sát không hoạt động hiệu quả, kết quả tất yếu sẽ đến việc sai lệch giá trị hàng tồn kho.
Trường hợp 4: Sự dồn tích bởi những áp lực khoe hàng của các ông chủ trong nhiều năm
Các ông chủ luôn phải khoe hàng với thiên hạ rằng cổ phiếu của họ là một cô gái đẹp, mang lại giá trị cao cho người sở hữu nó và điều này thể hiện trên báo cáo tài chính được kiểm toán thường niên. Và diễn viên nữ chính ở đây thông thường là em Hàng Tồn Kho. Bởi em nó rất linh hoạt trong việc ghi tăng ghi giảm, điều chỉnh trực tiếp vào biến động của doanh thu và giá vốn trong các năm. Muốn tăng doanh số thì tăng doanh thu bán hàng, muốn giảm lợi nhuận thì hoặc giảm doanh thu, hoặc tăng giá vốn hàng bán và điều đó tác động trực tiếp lên giá trị hàng tồn kho cuối kỳ. Việc tính toán giá thành sản phẩm trong khâu sản xuất cũng là một yếu tố tác động đến giá vốn hàng bán của doanh nghiệp đó trong kỳ và sẽ làm thay đổi diện mạo của báo cáo tài chính và lợi nhuận khi giá trị hàng tồn kho được tích tụ hoặc được giải thoát vào giá vốn hàng bán. Việc này anh kiểm toán thuê ngoài cũng cần phải có năng lực để hiểu và tính toán lại.
Ngoài ra sẽ còn rất nhiều nguyên nhân khác nữa về việc đột nhiên mất tích của Tồn Kho nhưng đểu mất tích khối lượng lớn thì dường như khó có thể thực hiện được ngoài các phương pháp trên.
Khi Hàng Tồn Kho đã đi xa quá, việc quay trở lại quá khứ để tìm nguyên nhân mất mát là điều không thể đối với doanh nghiệp cũng như tổn kém rất nhiều chi phí liên quan đến vấn đề đó. Nhiều anh chủ mới thất vọng với hàng hoá mình có được và việc xoá khỏi sổ sách những thứ không thực sự tồn tại là cách duy nhất các anh ấy có thể làm ngay lúc này để trở về với giá trị thật. Còn trách nhiệm là do hệ thống, do người chủ cũ hay do các anh bảo vệ thì cần rất nhiều thời gian để xem xét và điều tra.
Và “bài học xương máu” với các ông chủ sau những trường hợp vừa qua đó chính là hot girl Hàng Tồn Kho và chắc chắn một điều Hàng Tồn Kho giờ là một từ khoá quan trọng nhất của năm 2016.
Nguồn: ST

HOSE điều chỉnh bước giá xuống 10 đồng, tăng khối lượng đặt lệnh lên 500.000 cổ phiếu kể từ 12/9/2016


Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường và phù hợp với Thông tư số 203/2015/TT-BTC hướng dẫn về giao dịch trên thị trường chứng khoán, được sự chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Tổng Giám đốc SGDCK TP.HCM (HOSE) đã ký Quyết định ban hành Quy chế giao dịch chứng khoán tại SGDCK TP.HCM và Quy định thời gian giao dịch, biên độ dao động giá, đơn vị giao dịch, loại lệnh áp dụng tại SGDCK TP.HCM có hiệu lực từ 12/09/2016.
Tăng khối lượng tối đa của một lệnh đặt lên 500.000 đơn vị
Theo đó, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và tiến tới chuẩn thông lệ chung của quốc tế, HOSE đã tăng khối lượng tối đa của một lệnh đặt lên 500.000 cổ phiếu/chứng chỉ quỹ (quy định cũ: tối đa 19.990 cổ phiếu/chứng chỉ quỹ trên một lệnh đặt). Khối lượng tối thiểu của giao dịch thỏa thuận được giữ nguyên theo quy định cũ là 20.000 cổ phiếu/chứng chỉ quỹ.
Một thay đổi nữa được HOSE đưa ra là thay đổi đơn vị yết giá với cổ phiếu, CCQ đóng. Đối với cổ phiếu, CCQ có mức giá dưới 10.000 đồng thì đơn vị yết giá là 10 đồng; Đối với cổ phiếu, CCQ trong vùng giá từ 10.000 đồng – 49.950 đồng thì đơn vị yết giá là 50 đồng; Với cổ phiếu có mức giá từ 50.000 đồng trở lên, đơn vị yết giá sẽ giống với HNX là 100 đồng.
Đối với chứng chỉ quỹ ETF: Áp dụng đơn vị yết giá 10 đồng cho tất cả các mức giá.
Ví dụ: Với cổ phiếu có mức giá đóng cửa 9000 VNĐ. Theo đơn vị yết giá cũ, nhà đầu tư chỉ có 5 mức giá tăng (hoặc giảm) để lựa chọn đặt lệnh (mức giá 9,1 ; 9,2; 9,3; 9,4; 9,5 ngàn VNĐ). Đơn vị yết giá mới cung cấp cho nhà đầu tư thêm lựa chọn đặt lệnh tại các mức giá lẻ đến đơn vị 10 đồng. Cụ thể, thay vì mức giá 9,3, nhà đầu tư có thể lựa chọn đặt lệnh tại mức 9,26; 9,34… Như vậy, nhà đầu tư có nhiều lựa chọn đặt lệnh so với trước. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với các nhà đầu tư giao dịch thường xuyên, nhà đầu tư giao dịch với khối lượng lớn.
Không điều chỉnh giá tham chiếu cổ phiếu trong một số trường hợp
Phát hành thêm cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF với giá phát hành bằng giá đóng cửa của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng trước ngày giao dịch không hưởng quyền sau khi đã điều chỉnh các quyền khác (nếu có).
Phát hành cổ phiếu bổ sung theo phương án hoán đổi từ các giao dịch sáp nhập, trả cổ tức/thưởng bằng cổ phiếu quỹ cho cổ đông hiện hữu. Trường hợp cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng trả cổ tức/thưởng bằng cổ phiếu quỹ cho cổ đông hiện hữu, SGDCK TP.HCM thực hiện điều chỉnh biên độ dao động giá tại ngày giao dịch không hưởng quyền sau khi có sự chấp thuận của UBCKNN.
Biên độ dao động giá cổ phiếu trong ngày giao dịch trở lại là 20%
Trường hợp cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đóng, chứng chỉ quỹ ETF được giao dịch trở lại sau khi bị tạm ngừng giao dịch trên 25 ngày (quy định cũ là 45 ngày), biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đầu tiên được giao dịch trở lại được quy định cụ thể là +/-20% so với giá tham chiếu.
Cấm hủy lệnh trong phiên ATO và ATC
Hose cũng đưa ra quy định nghiêm cấm hủy lệnh trong thời gian khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa và khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa (bao gồm cả các lệnh được chuyển từ đợt khớp lệnh liên tục sang).
Rơi vào diện kiểm soát, cổ phiếu chỉ được giao dịch trong phiên chiều
Theo quy định cũ, chứng khoán rơi vào diện bị kiểm soát sẽ bị tạm ngừng giao dịch tối thiểu 2 ngày cho đến khi có công bố thông tin và có thông báo cho phép giao dịch trở lại của SGDCK TP.HCM. Theo quy định mới, khi rơi vào diện bị kiểm soát, chứng khoán sẽ chỉ bị hạn chế thời gian giao dịch (chỉ giao dịch vào phiên chiều của ngày giao dịch) cho đến khi có thông báo khác của SGDCK TP.HCM.

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2016

Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc là một người thì có những thuận lợi và hạn chế gì?

Không ít doanh nghiệp có Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc là một người. Theo thông lệ quản trị công ty trên thế giới thì một người kiêm 2 vị trí trên có những thuận lợi và hạn chế gì?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau: 
Trên thế giới tồn tại 2 mô hình quản trị công ty cổ phần chính:
- Mô hình nhị cấp kiểu Đức, trong đó yêu cầu tách bạch 2 chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị (CT HĐQT) và Tổng giám đốc (CEO).
- Mô hình đơn cấp kiểu Mỹ, trong đó thường tồn tại CT HĐQT kiêm nhiệm chức danh CEO. Tỷ lệ kiêm nhiệm 2 chức danh này có giảm trong thời gian gần đây, tuy vẫn ở mức cao (79%, 71%, 60%, 52% doanh nghiệp kiêm nhiệm theo khảo sát 500 doanh nghiệp trong bộ chỉ số S&P 500 của Mỹ tương ứng vào các năm 2001, 2005, 2010, 2015).
Việc kiêm nhiệm có ưu, nhược điểm chính như sau:
- Ưu điểm: Việc kiêm nhiệm hai vị trí giúp cho CEO có nhiều quyền lực hơn, hỗ trợ cho việc ra quyết định, đặc biệt là trong hoàn cảnh cấp bách. CEO nếu kiêm nhiệm CT HĐQT sẽ nhanh chóng hơn trong việc dung hòa, thống nhất các mong đợi khác nhau của các nhóm (Hội đồng quản trị, ban giám đốc) vì CEO tham gia, hiểu rõ tất cả các nhóm.
- Nhược điểm: Rủi ro che giấu thông tin, dẫn tới sự tập trung quyền lực ngoài ý muốn, CEO có thể hành động không vì lợi ích cao nhất của cổ đông và công ty.
Do đó, trong trường hợp kiêm nhiệm, để hạn chế rủi ro, lạm dụng quyền lực cần có cơ chế kiểm soát, đánh giá phù hợp thông qua:
- Thể chế giám sát hiệu quả: thành viên Hội đồng quản trị độc lập, các tiểu ban trực thuộc Hội đồng quản trị (ủy ban kiêm toán, ủy ban kiểm soát nội bộ, ủy ban lương thưởng…) hoặc Ban kiểm soát.
- Hệ thống nguyên tắc quy định nội bộ (điều lệ, quy chế quản trị…) rõ ràng: phân định cụ thể quyền hạn trách nhiệm trong đó có trách nhiệm báo cáo, trách nhiệm giải trình để đảm bảo nâng cao tính công khai, minh bạch trong quá trình ra quyết định quản trị và điều hành doanh nghiệp của CT HĐQT kiêm CEO.

Gian lận và các giao dịch với bên liên quan – Phần 2

Tiếp theo phần thứ nhất bàn về các giao dịch về cho vay và bán hàng đối với các bên liên quan tới quản lý cấp cao, nhân viên và thành viên ban điều hành, chúng ta tiếp tục bàn về vấn đề liên quan đến mua hàng, lỗi quy trình và làm sao để có thể phối hợp với các bên cũng như giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra.
Người phụ trách mua hàng cho một công ty sản xuất mua các sản phẩm cho công ty của họ từ công ty mà anh ta bí mật sở hữu, công ty ABC. Nhiều giao dịch mua bán được thực hiện với mức giá cao hơn nhiều so với giá thị trường, mang lại cho người phụ trách bán hàng một khoản lợi nhuận không nhỏ. Một số các giao dịch khác được thực hiện với việc bán các hàng hoá chất lượng kém với giá thấp và được người mua hàng mua cho công ty bằng giá thị trường và tạo lợi nhuận cho công ty của anh ta.
Những rủi ro chính trong việc mua hàng của bên liên quan:
  1. Phải thanh toán với mức giá cao hơn nhiều so với giá thị trường của sản phẩm hoặc dịch vụ.
  2. Hàng hoá hoặc dịch vụ nhận được có chất lượng dưới mức trung bình và phải mua với mức giá thị trường của các sản phẩm có chất lượng tốt.
  3. Có thể không bao giờ nhận được hàng hoắ hoặc dịch vụ đã mua.
Quy trình kiểm toán nội bộ: Kiểm toán nội bộ nên so sánh chi phí giữa các nhà cung cấp để xác định những đơn vị có mức chi phí cao hơn mức trung bình. Để xác định được những biến động, kiểm toán cần phải tìm hiểu nguyên nhân vì sao có sự biến động như vậy và liệu có các mối quan hệ liên quan nào hay không.
Cũng tương tự như kiểm toán phần bán hàng, kiểm toán nội bộ cần so sánh địa chỉ, số điện thoại, mã số thuế và ngày sinh của nhân viên đối với các thông tin của nhà cung cấp để xem có mối liên quan nào không. Kiểm toán cần đánh giá việc sử dụng bên trung gian đối với các sản phẩm mà họ có thể mua trực tiếp từ nhà cung cấp với chi phí thấp hơn.
Tìm kiếm lỗi quy trình
Trong quá trình rà soát các tài liệu của công ty, kiểm toán nội bộ có thể nhận thấy công ty không có bất kỳ chính sách hay quy trình nào trong việc ngăn cản các mối quan hệ với bên liên quan hoặc các giao dịch với bên liên quan trước khi phê duyệt. Công ty cũng có thể không cung cấp các khoá đào tạo cho nhân viên về các giao dịch và mối quan hệ với bên liên quan, hoặc yêu cầu các nhân viên phải công khai khi họ tham gia vào những vấn đề có thể dẫn tới mâu thuẫn lợi ích với công ty.
Công ty cần duy trì những chính sách và quy trình được văn bản hoá để xác định các quy trình trong việc phê duyệt các giao dịch và mối quan hệ với các bên liên quan. 
Các rủi ro chính bao gồm:
  1. Các chính sách và quy trình không tồn tại hoặc không đầy đủ và không được văn bản hoá.
  2. Nhân viên không được yêu cầu kê khai thường xuyên về những vấn đề có thể xảy ra xung đột lợi ích.
  3. Các giao dịch với bên liên quan không được phê duyệt theo các chính sách và quy trình hiện hữu.
  4. Các giao dịch với bên liên quan được phê duyệt với ngoại lệ của các chính sách và quy trình của công ty.
Các quy trình kiểm toán nội bộ: Kiểm toán nội bộ cần rà soát các tài liệu về chính sách và quy trình liên quan đến các bên liên quan. Nếu các chính sách và quy trình không tồn tại hoặc không đủ hiệu lực để phòng ngừa rủi ro về việc không đúng thẩm quyền, hoặc các giao dịch hoặc mối quan hệ với bên liên quan không phù hợp, kiểm toán nội bộ cần tư vấn với lãnh đạo cấp cao và ban điều hành để xây dựng những chính sách và quy trình phù hợp.
Kiểm toán cần phải rà soát những báo cáo về xung đột lợi ích. Nếu một nhân viên có xung đột lợi ích trong báo cáo của họ, kiểm toán cần đánh giá xem xung đột lợi ích đó có được phê duyệt một cách phù hợp và có quy trình nào ghi nhận và công bố xung đột lợi ích đó hay không.
Ban lãnh đạo cần rà soát về việc phê duyệt các giao dịch và mối quan hệ với bên liên quan thực hiện bởi lãnh đạo cấp cao hoặc thành viên ban lãnh đạo. Kiểm toán nội bộ cũng cần phải rà soát các văn bản về việc phê duyệt của lãnh đạo cấp cao cho các mối quan hệ hoặc giao dịch với bên liên quan đối với các nhân sự không phải là lãnh đạo cấp cao. Khi rà soát các giấy tờ này, kiểm toán nội bộ cần đánh giá việc công ty có những ngoại lệ đối với các chính sách và các quy trình được văn bản hoá trong quá trình phê duyệt hay không. Nếu các ngoại lệ đó tồn tại, kiểm toán cần phải đánh giá mục đích kinh doanh và mức độ hợp lý của các ngoại lệ đó.
Phối hợp
Để giảm thiểu sự trùng lắp trong công việc và đảm bảo các rủi ro liên quan đến bên liên quan được xem xét hết, Trưởng KTNB cần phải có những hoạt động phối hợp và chia sẻ thông tin về những rủi ro đó với các bên cung cấp dịch vụ bên trong và bên ngoài. Kiểm toán độc lập nhìn chung được yêu cầu cân nhắc đến các rủi ro với bên liên quan khi thực hiện kiể toán. Ví dụ như trong ISA550 có đề cập đến việc trách nhiệm của kiểm toán là xác định một cách đặc biệt về các giao dịch và mối liên hệ với các bên liên quan.
Bằng việc phối hợp với kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ có thể giúp xác định các rủi ro với bên liên quan và có thể có sự ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính và các yêu cầu về công bố thông tin, trong khi cùng lúc đó, việc xác định các rủi ro với bên liên quan có thể dưới mức trọng yếu tuy nhiên vẫn rất quan trọng đối với công ty.
Trưởng KTNB cần cân nhắc các quy định của chính phủ hoặc các yêu cầu trong hợp đồng có thể ngăn chặn một số dạng giao dịch hoặc mối quan hệ với bên liên quan. Kiểm toán nội bộ cần phối hợp với bộ phận tuân thủ, quản trị rủi ro và phòng pháp chế để xác định các rủi ro với bên liên quan và đảm bảo rằng các rủi ro đó được kiểm soát và can thiệp kịp thời.
Giảm thiểu rủi ro: 
Kiểm toán nội bộ có thể phát hiện được các xung đột lợi ích chưa được công bố bằng việc đưa ra các dấu hiệu nhận biết liên quan đến các giao dịch và mối quan hệ với bên liên quan. Khi các dấu hiệu này tồn tại, kiểm toán nội bộ cần đánh giá bản chất của giao dịch và các giao dịch đó có được phê duyệt đúng hay không. Việc phát hiện các giao dịch với bên liên quan không được phê duyệt và đánh giá các chính sách và quy trình với bên liên quan, kiểm toán nội bộ có thể xác định những khác biệt và khuyến nghị những sự thay đổi về chính sách và quy trình để giảm thiểu rủi ro trong tương tai đối với các giao dịch và mối quan hệ với các bên liên quan chưa được phê duyệt.
Các dấu hiệu chính
Gian lận về vay tiền
– Các khoản vay dành cho nhân viên, cho thành viên ban lãnh đạo.
– Các khoản vay không có lãi.
– Các khoản vay không có đủ tài sản đảm bảo.
– Các khoản vay không có kỳ trả nợ cố định.
– Các khoản vay cho các bên không thể hoàn trả.
– Cung cấp vốn để thanh toán các khoản vay hoặc phải thu không thể trả.
– Bảo lãnh cho các khoản vay cá nhân.
– Không thuyết minh đầy đủ bản chất của các khoản vay trên báo cáo tài chính.
– Ngăn cản kiểm toán tiếp cận người vay.

Gian lận về bán hàng
– Giá bán thấp hơn nhiều so với giá thị trường.
– Giá bán thấp hơn giá bán cho trung gian và không có lý do về mục đích kinh doanh.
– Quyền trả lại hàng hoá bất thường.
– Trách nhiệm mua lại hàng hoá đã bán.
– Các điều khoản gia hạn thời gian thanh toán bất thường.
– Giảm giá hoặc trả lại vượt quá hạn mức cho một khách hàng.
– Viết hoá đơn nhưng chưa giao hàng.
– Các điều chỉnh về phải thu hoặc xoá nợ cho một khách hàng khi chưa được phê duyệt hoặc thiếu chứng từ.
– Hạn chế kiểm toán tiếp cận khác hàng để thu thập bằng chứng.

Gian lận về mua hàng
– Chi phí cao hơn nhiều so với giá thị trường.
– Trả giá cao hơn cho sản phẩm thông dụng.
– Chi phí cao hơn khi mua từ trung gian mà không có lý do chính đáng.
– Số lượng lớn bất thường về phế liệu hoặc hàng hỏng hoặc tiêu thụ nguyên vật liệu với nguyên nhân chất lượng nguyên vật liệu kém.
– Hạn chế việc tiếp cận nhà cung cấp để thu thập bằng chứng. 
Nguồn: ST
 

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016

Gian lận và các giao dịch với bên liên quan – Phần 1


Một cá nhân sử dụng vị trí của mình để đạt được lợi ích cá nhân một cách bí mật làm gia tăng chi phí của các chủ sở hữu đã phá huỷ sự tin tưởng của các tổ chức đã tuyển dụng họ. Thông thường những hành động này thường được thực hiện dưới dạng các giao dịch với bên liên quan không được công bố, ở đó các cá nhân phê duyệt cho các giao dịch đó cũng sẽ đồng thời có được lợi ích cá nhân từ các tổ chức thuê họ.​
Kiểm toán nội bộ cần xác định những dấu hiệu của các khoản vay với bên liên quan, giao dịch bán hàng và mua hàng mà ở đó có thể xuất hiện gian lận. Chúng ta sẽ đưa một số ví dụ nhằm minh hoạ những phương pháp thông thường được sử dụng liên quan đến các gian lận. Bằng việc xác định các dấu hiệu trong những ví dụ này, kiểm toán nội bộ có thể nâng cao được năng lực của họ để phát hiện được các gian lận với các bên liên quan.
Các khoản vay:
Phó chủ tịch phụ trách tài chính tại một công dịch vụ vay 50.000 USD từ công ty. Hợp đồng vay nợ nói rằng lãi suất là 0% và không có tài sản đảm bảo cũng như không có ngày đáo hạn. Kế toán ghi nhận trong báo cáo tài chính như khoản phải thu thông thường mà không thuyết minh bản chất của khoản vay này là với bên liên quan. Vị này cũng sử dụng vị trí của mình để thay mặt công ty bảo đảm cho một khoản vay cá nhân khác.
Những rủi ro chính trong giao dịch vay trên bao gồm:
Cung cấp khoản vay cho quản lý cao cấp, những nhân viên khác hoặc thành viên ban quản trị với mức lãi suất thấp hơn mức thị trường hoặc dưới những điều khoản không có tính thị trường.
Không thuyết minh bản chất liên quan của khoản vay.
Công ty cung cấp bảo lãnh cho các khoản vay cá nhân của nhân viên hoặc thành viên ban quản trị.
Với những rủi ro trên, việc có được những điều khoản ưu ái mang lại lợi ích cho nhân viên chính là chi phí của doanh nghiệp.
Các quy trình của kiểm toán nội bộ nhằm xác định các khoản vay không được thuyết minh dành cho quản lý cấp cao, thành viên hội đồng và nhân viên yêu cầu kiểm toán nội bộ cần phải tìm kiếm các khoản vay cho bên liên quan thông qua việc phân tích các dữ liệu nhằm so sánh tên trên toàn bộ các khoản phải thu và các khoản phải thu có tên của nhân viên từ danh sách lương và với các thành viên thông qua tên của họ trên các biên bản họp. Nếu phát hiện sự trùng lặp, kiểm toán nội bộ cần đánh giá liệu giao dịch với các bên liên quan đó được phê duyệt một cách phù hợp và được trình bày đầy đủ trên các ghi nhận kế toán và các báo cáo tài chính.
Kiểm toán nội bộ cũng có thể tìm kiếm các khoản mục cho vay bên liên quan không được trình bay bằng việc kiểm tra lãi suất, ngày đáo hạn và các điều khoản về tài sản thế chấp. Nếu lãi suất là bằng 0% hoặc thấp hơn bất thường hoặc có những điều khoản đặc biệt như không có ngày đáo hạn, tài sản đảm bảo không đầy đủ, có thể là những dấu hiệu của những giao dịch với bên liên kết. Kiểm toán nội bộ cũng cần phải kiểm tra các khoản tạm ứng cho khách hàng hoặc những người khác hoặc những người nợ tiền của công ty. Một công ty thông thường không tạm ứng tiền cho người khác mà họ đang nợ tiền trừ khi ở đó có mối quan hệ liên quan tồn tại.
Bán hàng
Một đại diện bán hàng cho một công ty sản xuất đã bán một lượng hàng hoá lớn với mức chiết khấu lớn cho công ty XYZ, một công ty mà anh ta sở hữu nhưng không công bố về xung đột lợi ích. Công ty XYZ, sau đó, bán hàng hoá đó với giá thị trường và mang lại lợi nhuận cho anh ta. Công ty XYZ trả lại hàng hoá mà họ không thể bán được vài tháng sau đó để nhận lại tiền. XYZ không trả các khoản phải trả cho nhiều lần mua hàng và đại diện bán hàng thuyết phục trưởng phòng tín dụng xoá các khoản phải thu đó ra khỏi sổ sách.
Những rủi ro chính đối với các khoản bán hàng với bên liên quan bao gồm nhân viên:
Bán hàng hoá và dịch vụ có mức giá thấp hơn nhiều so với giá thị trường hoặc đưa ra những điều khoản bán hàng có lợi mà nếu không phải là bên liên quan thì khó có thể có được;
Việc nâng giá trị bán hàng để được thưởng hoặc quyền chọn mua cổ phiếu thông qua việc sử dụng các bên liên quan cũng là một biện pháp hay được sử dụng. Đặc biệt những vấn đề liên quan đến bán hàng chưa thực sự được ghi nhận khi hàng hoá d chưa được chuyển đi hoặc có những điều khoản về việc mua lại hàng hoá (trả lại hàng hoá) do vậy việc bán hàng chưa thực sự được hoàn tất.
Phê duyệt giảm giá và trả lại hàng đã bán cũng như điều chỉnh các khoản phải thu và xoá nợ cho các bên liên quan.
Trong nỗ lực giấu các giao dịch với bên liên quan, nhân viên thường cản trở kiểm toán tiếp cận với khách hàng nhằm hạn chế việc kiểm toán thu thập các bằng chứng liên quan đến mối quan hệ của họ.
Cá thủ tục kiểm toán nội bộ: Cần thực hiện các phân tích nhằm so sánh giá giữa các khách hàng nhằm xác định ai đang được mua với mức giá thấp hơn bình thường so với giá bán trung bình. Kiểm toán cũng cần phải xác định những khách hàng được mua với giá khác so với giá được phê duyệt. Hợp đồng cũng cần được phân tích để xác định những dấu hiệu bất thường về các quyền được trả lại hàng hoá, nghĩa vụ mua lại hàng, và việc gia hạn thanh toán. Thủ tục phân tích nhằm xác định các khách hàng với việc trả lại quá nhiều, giảm giá hàng bán, điều chỉnh các khoản phải thu, và xoá nợ. Những biến động trong các phạm vi đó có thể là dấu hiệu cho các giao dịch với bên liên quan chưa được công bố.
Phân tích dữ liệu có thể được sử dụng thông qua việc só sánh địa chỉ của nhân viên, số điện thoại, mã số thuế và ngày sinh với địa chỉ khách hàng, số điện thoại, mã số thuế và ngày thành lập công ty. Khi tạo lập một công ty ma, nhiều cá nhân sử dụng thông tin cá nhân của họ cũng như ngày thành lập là ngày sinh của họ. Sự trùng khớp sẽ có thể là dấu hiệu của bên có liên quan và cần được điều tra kỹ hơn.
Đón đọc Phần 2: Mua hàng, Tìm kiếm lỗi quy trình, Sự phối hợp giữa các bên và giảm thiểu rủi ro.
Nguồn: ST

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2016

Con dấu doanh nghiệp: cải cách lớn nhưng thực tiễn thi hành vẫn vướng mắc


Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2015 đã có cải cách lớn về con dấu, nhưng thực tiễn sau 03 tháng thi hành còn nhiều vướng mắc.

Nội dung về con dấu của doanh nghiệp được quy định tại Điều 44 Luật doanh nghiệp 2014. So với các quy định trước đây, Luật doanh nghiệp 2014 đã có những cải cách lớn trong quy định về con dấu.
Cải cách lớn thứ nhất là cho phép doanh nghiệp được quyết định số lượng, hình thức, nội dung con dấu. Trước đây, con dấu doanh nghiệp được coi là công cụ quản lý nhà nước bởi việc giám sát, quản lý sử dụng con dấu, quyết định hình thức, số lượng, nội dung con dấu thuộc về cơ quan nhà nước. Theo quy định mới, doanh nghiệp có thể thực hiện quyền sở hữu một cách đúng bản chất đó là: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với con dấu – một tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp.
Cải cách lớn thứ hai đó là quy định về sử dụng con dấu. Theo quy định mới, doanh nghiệp vẫn bắt buộc phải có con dấu, nhưng “doanh nghiệp có sử dụng con dấu hay không sử dụng thì tùy trường hợp cụ thể” – ông Phan Đức Hiếu, Trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, người chắp bút soạn thảo Luật doanh nghiệp 2014 khẳng định. Trước đây, quy định về con dấu doanh nghiệp mang nặng tính hình thức, hầu như các văn bản, hợp đồng của các doanh nghiệp bắt buộc phải có con dấu. Giá trị của các văn bản nội bộ doanh nghiệp, hợp đồng giao dịch của doanh nghiệp chỉ được khẳng định giá trị pháp lý khi có con dấu của doanh nghiệp, trường hợp có chữ ký của người có thẩm quyền tại doanh nghiệp nhưng không có con dấu thì xem như văn bản, hợp đồng đó không có giá trị pháp lý. Chính việc đề cao giá trị pháp lý của con dấu đã dẫn đến tình trạng làm giả con dấu để lừa đảo chiếm đoạt tài sản, điển hình đó là vụ án Huỳnh Thị Huyền Như làm giả 8 con dấu để chiếm đoạt gần 4.000 tỷ đồng. Đồng thời, trước đây, quy định con dấu phải được đặt ở trụ sở chính, nhiều trường hợp trụ sở chính và văn phòng đại diện, nhà máy sản xuất… cách xa nhau, nhưng xin con dấu phải đến trụ sở chính rất tốn thời gian. Quy định mới về con dấu đã giải quyết những rắc rối này.
Mặc dù có nhiều cải cách lớn, nhưng thực tiễn thi hành còn nhiều vướng mắc…
Sau khi Luật mới có hiệu lực, hàng nghìn doanh nghiệp đã được đăng ký thành lập mới, nhưng không ít doanh nghiệp không biết đăng ký và khắc dấu ở đâu, có bắt buộc phải ở những cơ sở khắc dấu được Nhà nước công nhận hay không hoặc băn khoăn về giá trị pháp lý của con dấu khi không phải qua đăng ký với cơ quan công an như trước đây…
Ngoài ra, không ít những doanh nghiệp đặt ra câu hỏi “khi nào cần đóng dấu?”, “đặt giả sử trong trường hợp giao dịch có thỏa thuận về việc không sử dụng con dấu thì khi xảy ra tranh chấp, giải quyết như thế nào, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết?”…

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2016

Tư vấn soạn thảo hợp đồng


Nội dung dịch vụ tư vấn soạn thảo hợp đồng:

- Nghiên cứu tài liệu liên quan, tìm hiểu thông tin liên quan về các bên của hợp đồng trong các trường hợp cụ thể theo yêu cầu của doanh nghiệp từ đó đưa ra giải pháp tư vấn tối ưu cho việc soạn hợp đồng và ký kết hợp đồng, đảm bảo lợi ích tối đa cho doanh nghiệp và cân bằng được lợi ích của các bên trong hợp đồng;
- Đưa ra các ý kiến pháp lý để bên thuê Tư vấn đánh giá, quyết định trong việc đàm phán các nội dung hợp đồng;
- Thẩm định các nội dung, rà soát, chỉnh sửa các điều khoản hợp đồng do đối tác đưa ra;
- Soạn thảo các điều khoản hợp đồng cần thiết, đàm phán với đối tác để bảo vệ các điều khỏan quan trọng, bảo đảm được quyền hợp pháp của bên thuê tư vấn;
- Soạn thảo và hiệu chỉnh các điều khoản liên quan tới quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng;
- Tư vấn và soạn thảo các nội dung khác của hợp đồng trên cơ sở các qui định của pháp luật về hợp đồng như điều khoản thanh toán, phạt hợp đồng, luật áp dụng, cơ quan tài phán...
Doanh Nghiệp Việt cung cấp dịch vụ tư vấn soạn thảo các loại hợp đồng sau:
- Tư vấn soạn thảo Hợp đồng kinh tế;
- Tư vấn soạn thảo Hợp đồng thương mại;
- Tư vấn soạn thảo Hợp đồng đầu tư;
- Tư vấn soạn thảo Hợp đồng dân sự;
- Tư vấn soạn thảo Hợp đồng lao động;
- Tư vấn soạn thảo Hợp đồng hợp đồng hợp tác kinh doanh;
- Tư vấn soạn thảo Hợp đồng hợp đồng liên doanh;
- Tư vấn soạn thảo Hợp đồng hợp đồng mua bán hàng hóa;
- Tư vấn soạn thảo Hợp đồng hợp đồng bảo đảm bí mật...
- Tư vấn soạn thảo Hợp đồng mua bán;
- Tư vấn soạn thảo các loại hợp đồng khác theo yêu cầu của khách hàng...

Tổng giám đốc từ nhiệm vẫn phải báo cáo kết quả giao dịch cổ phiếu

Trường hợp người nội bộ của công ty đại chúng (ví dụ tổng giám đốc) đăng ký giao dịch mua cổ phiếu, nhưng trong thời gian đăng ký giao dịch, người này không còn là người nội bộ của công ty đại chúng nữa (đã từ nhiệm vị trí tổng giám đốc), thì có phải báo cáo kết quả giao dịch không?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Theo quy định tại Khoản 3, Điều 28, Thông tư 155/2015/TT-BTC, trường hợp sau khi đăng ký giao dịch, đối tượng đăng ký giao dịch không còn là người nội bộ của công ty đại chúng, người nội bộ của quỹ đại chúng, hoặc người có liên quan của các đối tượng này, thì đối tượng đăng ký giao dịch vẫn phải thực hiện việc báo cáo và công bố thông tin theo quy định. Như vậy, trường hợp trên, người nội bộ (tổng giám đốc) vẫn phải báo cáo kết quả giao dịch cổ phiếu trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày hoàn tất giao dịch.
Doanh nghiệp A mới cổ phần hóa và trở thành công ty đại chúng, doanh nghiệp này không in sổ chứng chỉ vật chất cho cổ đông, mà muốn quản lý sổ đăng ký cổ đông bằng dữ liệu điện tử có được không?
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 120, Luật doanh nghiệp 2014, thì cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc mốt số cổ phần của công ty. Khoản 1, Điều 121 luật này cũng quy định, công ty cổ phần phải lập và lưu trữ sổ đăng ký cổ đông có thể bằng văn bản, tập dữ liệu điện tử hoặc cả hai loại này.
Như vậy, luật cho phép doanh nghiệp A quản lý sổ cổ đông bằng dữ liệu điện tử, đây là cũng là thông lệ tốt giúp doanh nghiệp quản lý sổ cổ đông dễ dàng, các thủ đăng ký lưu ký, tái lưu ký chứng khoán với Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam cũng thuận tiện cho doanh nghiệp và cổ đông.

Doanh nghiệp gửi thư mời và tài liệu Đại hội cổ đông qua đường điện tử có đúng luật hay không?

Tại ĐHCĐ thường niên năm 2016, Công ty chúng tôi dự kiến áp dụng các ứng dụng công nghệ hiện đại trong kỳ họp. Xin hỏi, nếu chúng tôi gửi thư mời và tài liệu qua đường điện tử có đúng luật hay không? Trường hợp cổ đông ở xa không tham dự trực tiếp được cuộc họp, họ theo dõi qua web và bỏ phiếu qua web có được chấp nhận kết quả hay không?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
- Theo điều 139 luật DN 2014 quy định rất rõ về mời họp cổ đông thì công ty bắt buộc phải gửi thông báo mời họp cho cổ đông bằng phương thức bảo đảm đồng thời đăng trên trang thông tin điện tử của công ty và đăng báo hằng ngày của trung ương hoặc địa phương, khi xét thấy cần thiết theo quy định của Điều lệ công ty
Thông báo mời họp phải được gửi kèm theo các tài liệu sau đây:
a) Chương trình họp, các tài liệu sử dụng trong cuộc họp và dự thảo nghị quyết đối với từng vấn đề trong chương trình họp;
b) Phiếu biểu quyết;
c) Mẫu chỉ định đại diện theo ủy quyền dự họp.
Trường hợp công ty có trang thông tin điện tử, việc gửi tài liệu họp kèm theo thông báo mời hợp có thể thay thế bằng đăng tải lên trang thông tin điện tử của công ty. Trường hợp này, thông báo mời họp phải ghi rõ nơi, cách thức tải tài liệu và công ty phải gửi tài liệu họp cho cổ đông nếu cổ đông yêu cầu.
- Điều 140 Luật DN 2014 quy đinh về thực hiện quyền dự họp cho cổ đông cho phép tham dự và biểu quyết thông qua hội nghị trực tuyến, bỏ phiếu điện tử hoặc hình thức điện tử khác vì vậy công ty hoàn toàn có thể lựa chọn hình thức đại hội cổ đông trực tuyến (ủy quyền, biểu quyết, bầu cử trực tuyến), tùy nhiên do luật DN 2014 chưa có hướng dẫn cụ thể nên để có thể áp dụng hình thức này doanh nghiệp cần chuẩn bị những điều sau:
+ Quy định trong điều lệ, quy chế quản trị công ty, quy chế tổ chức ĐHĐCĐ, quy chế biểu quyết bầu cử về cách thức tổ chức đại hội cổ đông trực tuyến(ủy quyền, biểu quyết, bầu cử trực tuyến)
+ Thuê ngoài một đơn vị tư vấn chuyên nghiệp cung cấp hệ thống ủy quyền, biểu quyết, bầu cử trực tuyến cũng như hỗ trợ tư vấn trình tự thủ tục triển khai đại hội trực tuyến.

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2016

Cổ đông có quyền yêu cầu HĐQT cung cấp danh sách cổ đông có quyền dự họp ĐHCĐ không?

Cổ đông có quyền yêu cầu HĐQT cung cấp danh sách cổ đông có quyền dự họp ĐHCĐ hay chỉ được quyền trích lục danh sách đó?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 3, Điều 137, Luật Doanh nghiệp 2014, danh sách cổ đông có quyền dự họp ĐHCĐ được lập dựa trên sổ đăng ký cổ đông của công ty. Cổ đông có quyền kiểm tra, tra cứu, trích lục và sao danh sách cổ đông có quyền dự họp ĐHCĐ; yêu cầu sửa đổi những thông tin sai lệch hoặc bổ sung những thông tin cần thiết về mình trong danh sách cổ đông có quyền dự họp ĐHCĐ.
Người quản lý công ty phải cung cấp kịp thời thông tin sổ đăng ký cổ đông, sửa đổi, bổ sung thông tin sai lệch theo yêu cầu của cổ đông; đồng thời chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không cung cấp hoặc cung cấp không kịp thời, không chính xác thông tin sổ đăng ký cổ đông theo yêu cầu. Trình tự, thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin trong sổ đăng ký cổ đông thực hiện theo quy định tại điều lệ công ty.
Theo quy định tại khoản 18, Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2014, người quản lý công ty cổ phần bao gồm chủ tịch HĐQT, thành viên HĐQT, giám đốc hoặc tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại điều lệ công ty.
Tuy nhiên, trình tự thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin trong sổ đăng ký cổ đông được thực hiện theo quy định tại điều lệ công ty, vậy nếu điều lệ công ty không quy định thì cổ đông thực hiện quyền này như thế nào? Mặt khác, chế tài xử lý chưa rõ ràng trong trường hợp người quản lý công ty không cung cấp hoặc cung cấp không kịp thời, không chính xác thông tin sổ đăng ký cổ đông theo yêu cầu.
Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho cổ đông thực hiện quyền của mình, tránh các rủi ro tranh chấp phát sinh giữa cổ đông và công ty, điều lệ công ty cần có quy định cụ thể về việc cổ đông có thể thực hiện quyền kiểm tra, tra cứu, trích lục và sao danh sách cổ đông có quyền dự họp ĐHCĐ trong những trường hợp cụ thể; trình tự, thủ tục cổ đông yêu cầu người quản lý công ty cung cấp thông tin này, cũng như trách nhiệm bảo mật thông tin của cổ đông liên quan đến các thông tin được cung cấp.

Quy định cụ thể về việc công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết, đại chúng quy mô lớn

Gần đây rất nhiều DN bị phạt vì công bố thông tin (CBTT) không đúng thời hạn theo quy định pháp luật như Báo cáo tài chính (BCTC) năm công ty mẹ và hợp nhất đã được kiểm toán, BCTC hợp nhất quý, Báo cáo thường niên (BCTN)… DN chúng tôi có kế hoạch niêm yết cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán, vậy xin hỏi quy định cụ thể về CBTT các tài liệu này?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Việc CBTT của doanh nghiệp niêm yết, đại chúng quy mô lớn được quy định rất rõ trong chương II & chương III thông tư 155/2015/TT-BTC hướng dẫn về CBTT trên thị trường chứng khoán có hiệu lực từ 01/01/2016. Cụ thể như sau:
- Báo cáo tài chính quý: Tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn phải công bố BCTC quý trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày kết thúc quý; được ủy ban chứng khoán nhà nước (UBCKNN) xem xét gia hạn khi có yêu cầu bằng văn bản trong trường hợp phải lập BCTC quý hợp nhất… nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày kết thúc quý
- Báo cáo tài chính bán niên: Tổ chức niêm yết, công ty đại chúng quy mô lớn phải công bố BCTC bán niên đã được soát xét trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo soát xét nhưng không được vượt quá 45 ngày, kể từ ngày kết thúc 06 tháng đầu năm tài chính. ; được UBCKNN xem xét gia hạn khi có yêu cầu bằng văn bản trong trường hợp phải lập BCTC bán niên hợp nhất….nhưng tối đa không quá 60 ngày, kể từ ngày kết thúc 06 tháng đầu năm tài chính.
- Báo cáo tài chính năm: Công ty đại chúng (bao gồm công ty niêm yết) phải công bố báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo kiểm toán nhưng không vượt quá 90 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính; được UBCKNN xem xét gia hạn khi có yêu cầu bằng văn bản trong trường hợp phải lập BCTC năm hợp nhất… nhưng tối đa không quá 100 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty phải hợp nhất BCTC, UBCKNN sẽ xem xét để doanh nghiệp có thể gửi công văn một lần, xin gia hạn cho tất cả các lần công bố BCTC trong năm.
- Báo cáo thường niên: Công ty đại chúng phải lập BCTN theo Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Thông tư 155/2015/TT-BTC và công bố báo cáo này chậm nhất là 20 ngày sau ngày công bố BCTC năm được kiểm toán nhưng không vượt quá 120 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Thông tin tài chính trong BCTN phải phù hợp với BCTC năm được kiểm toán.

 Mẫu BCTN mới tại Thông tư 155/2015/TT-BTC có bổ sung nội dung liên quan đến phát triển bền vững nhằm mục đích tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường xã hội đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế.

Bị tòa tuyên hủy Nghị quyết ĐHCĐ bầu HĐQT, ai sẽ tiến hành triệu tập lại ĐHCĐ?

Nghị quyết ĐHCĐ thường niên của Công ty A bị Tòa án tuyên hủy, trong đó có nội dung bầu HĐQT nhiệm kỳ mới. Trong trường hợp này, Công ty A sẽ phải tiến hành tổ chức lại ĐHCĐ và bầu lại các thành viên HĐQT, vậy ai sẽ tiến hành triệu tập ĐHCĐ?
Doanh nghiệp xử lý như thế nào là đúng luật trong trường hợp cổ đông ủy quyền cho người khác tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ, nhưng cổ đông đó vẫn đến tham dự đại hội với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của cổ đông khác?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Luật Doanh nghiệp 2014 không có quy định, trong trường hợp Nghị quyết ĐHCĐ bị tuyên hủy, trong đó có nội dung bầu HĐQT nhiệm kỳ mới, thì ai sẽ là người có thẩm quyền triệu tập họp để tổ chức lại ĐHCĐ.
Theo chúng tôi, với trường hợp trên, vì lợi ích của các cổ đông và lợi ích chung của Công ty, HĐQT nhiệm kỳ trước (HĐQT đã hết nhiệm kỳ nhưng chưa bị miễn nhiệm do Nghị quyết ĐHCĐ đã bị tuyên hủy) sẽ tiến hành triệu tập họp ĐHCĐ. Nếu HĐQT không triệu tập họp ĐHCĐ thì Ban kiểm soát thay thế HĐQT triệu tập họp; Ban kiểm soát không tiến hành triệu tập họp ĐHCĐ thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông theo quy định tại Khoản 2, Điều 114, Luật Doanh nghiệp 2014 (cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ Công ty) có quyền đại diện Công ty triệu tập họp.
Luật Doanh nghiệp không thể quy định chi tiết những tình huống phát sinh trên thực tế, vì vậy, Công ty nên đưa ra những quy định cụ thể trong Điều lệ hoặc Quy chế quản trị công ty để có cách xử lý khi những tình huống như trên xảy ra.
Doanh nghiệp xử lý như thế nào là đúng luật trong trường hợp cổ đông ủy quyền cho người khác tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ, nhưng cổ đông đó vẫn đến tham dự đại hội với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của cổ đông khác?

Điều 140 LDN 2014 quy định về thực hiện quyền dự họp ĐHĐCĐ, cổ đông có thể ủy quyền cho một người khác tham dự và biểu quyết tại cuộc họp; nhưng không có quy định hạn chế việc cổ đông đã ủy quyền cho người khác thì không được đến tham dự họp ĐHĐCĐ. Vì vậy, trong trường hợp này, Ban tổ chức vẫn phải tiến hành các thủ tục đăng kí dự họp cho cổ đông.

Cổ đông lập ủy quyền cho người đại diện dự họp Đại hội đồng Cổ đông không theo mẫu của doanh nghiệp quy định thì có hợp lệ hay không?

Doanh nghiệp (DN) tôi tổ chức Đại hội đồng Cổ đông, xin hỏi nếu cổ đông lập ủy quyền không theo mẫu của DN quy định có hợp lệ hay không? Giấy ủy quyền của cổ đông tổ chức lập cho cá nhân tham dự đại hội có phải do người đại diện theo pháp luật của Công ty ký hay không? Xin cho biết lưu ý liên quan đến thủ tục này?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Theo khoản 1, Điều 140 Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN 2014)- Thực hiện quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông: “Cổ đông có thể trực tiếp tham dự họp, ủy quyền bằng văn bản cho một người khác dự họp hoặc thông qua một trong các hình thức quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp cổ đông là tổ chức chưa có người đại diện theo ủy quyền quy định tại khoản 4 Điều 15 của Luật này thì ủy quyền cho người khác dự họp Đại hội đồng cổ đông.
Việc ủy quyền cho người đại diện dự họp Đại hội đồng cổ đông phải lập thành văn bản theo mẫu do công ty phát hành. Người được ủy quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông phải xuất trình văn bản ủy quyền khi đăng ký dự họp trước khi vào phòng họp”.
Như vậy:
- Cổ đông là cá nhân khi ủy quyền cho một người khác đại diện dự họp Đại hội đồng cổ đông phải lập ủy quyền theo mẫu do công ty phát hành.
- Cổ đông là tổ chức đã cử người đại diện theo ủy quyền theo quy định tại Điều 15 LDN 2014, thì người đại diện theo ủy quyền đó khi dự họp Đại hội đồng cổ đông không phải làm văn bản ủy quyền.
- Cổ đông là tổ chức chưa cử người đại diện theo ủy quyền theo quy định tại Điều 15 LDN 2014 thì có thể ủy quyền cho người khác dự họp Đại hội đồng cổ đông theo mẫu do công ty phát hành. Văn bản ủy quyền của cổ đông là tổ chức cho cá nhân tham dự họp Đại hội đồng cổ đông phải có họ tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức đó, theo quy định khoản 3 Điều 86 Luật dân sự 2005- Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân.
Để tránh xảy ra tranh chấp, phát sinh do mẫu giấy ủy quyền không hợp lệ, Công ty cần có những quy định cụ thể (hình thức giấy ủy quyền, trường hợp nào giấy ủy quyền không hợp lệ..) trong Điều lệ công ty và quy chế tổ chức Đại hội đồng cổ đông về việc ủy quyền tham dự Đại hội. Ngoài ra, Công ty cũng nên sử dụng các hình thức phương tiện công nghệ thông tin hiện đại trong việc tổ chức Đại hội đồng cổ đông như hội nghị trực tuyến, ủy quyền, bỏ phiếu điện tử hoặc các hình thức điện tử khác để tạo điều kiện tối đa cho cổ đông thực hiện quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông.

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

BA NHÀ VẬT LÝ


Thời bao cấp cứ nói đến du học là phải đi Đông Đức mới giàu, đi Ba Lan mới “thoáng”, còn đi Liên Xô thì chỉ có mỗi “cửa” mà học hành thôi – “muốn giàu đi Đức, muốn kiến thức đi Nga” là thế. Nhưng mà cũng lạ, sau này dân Liên Xô về ngoài việc “làm quan” nhiều thì đại gia cũng lắm lắm, chưa ai chịu khó tìm hiểu xem có sự liên hệ giữa việc “học” và việc thành công trên thương trường có mối liên hệ gì không? Bài này là một trong xê ri bài phân tích về mối tương quan đó…
Đúng là thời đó ở Liên Xô có phong trào học và nhiều người học giỏi thật. Cứ nói đến học nhiều người nhớ ngay tới Đại học tổng hợp Lomonosov ở thủ đô CCCP, người không đi Liên Xô ít để ý rằng có nhiều trung tâm đào tạo khác cũng có rất nhiều người Việt học giỏi. Đơn cử trường Tổng hợp ở thủ đô Minsk của nước cộng hòa Bạch Nga (BGU), nơi hàng chục năm rồi có học sinh Việt Nam theo học và có phong trào học hành rất truyền thống. Mới đây thôi hai vị bộ trưởng nước ta là hai người bạn học khoa lý trường này, sau đó cùng chuyển tiếp sinh…còn thứ trưởng, tổng cục trưởng thì nhiều kể chả hết được, tiến sỹ giáo sư thì đông lắm! Và cũng rất đáng nghiên cứu vì sao mà tỷ lệ triệu phú người Việt sau này là cựu sinh viên của trường đại học này cũng rất cao, có lẽ chả có trường nào bằng …
Ký túc xá số 2 của BGU nằm ngay gần sân vận động Dynamo là một ngôi nhà cao tầng xây rất hiện đại, từ năm 1981 là chỗ ở cho nghiên cứu sinh và sinh viên Việt Nam của khoa Vật lý và Báo chí. Quang “phơ” sang Liên Xô và được phân về BGU học khoa lý đúng từ 1981 và vào sống ở cái ký túc xá mới toanh và khá đẹp đẽ này. Quang người Hà Nội, học toán giỏi từ bé, là dân A0, sang Minsk bình yên thì chỉ biết học và đá bóng ở cái sân vận động của trường đằng sau ký túc xá thôi. Minsk điều kiện sống thì tốt, nhưng không có nhiều điều kiện để giao thương buôn bán như Matxcơva, Leningrad, Kiev, Baku…thế nên ngoài học và chơi thể thao ra thì sinh viên Việt Nam chỉ có một vài cách kiếm tiền cải thiện hết sức “truyền thống” và “lành” là vào những dịp nghỉ sinh viên ta xin đi làm công nhân thời vụ ở mấy cái nhà máy ở quanh Minsk hay vào dịp nghỉ hè đi làm công nhân xây tuyến đường sắt xuyên Sibery mà hay gọi là “đi BAM”. Nguyễn Đăng Quang cũng không là ngoại lệ, và anh chả có mấy biểu hiện sẽ trở thành một tycoon, một Quang “Masan” như ngày nay…
“Tai nạn” rình rập khắp nơi, và kể cả người học giỏi như Quang, cũng “học tài thi phận” như ai. Đến môn thi quốc gia gần cuối cùng trước khi tốt nghiệp anh cầm chắc sẽ có “bằng đỏ”- tức là đủ điểm để tốt nghiệp xuất sắc và sẽ có điều kiện chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh – thì với cái môn “Chủ nghĩa cộng sản khoa học”- môn học mà nói chung chỉ cần trả lời như vẹt thì có điểm “giỏi” ngay – Quang chỉ được điểm “khá”. Chả khác nào Messi đá trượt phạt đền ở Cup châu Mỹ, hay xạ thủ Hoàng Xuân Vinh hai viên cuối bắn chỉ trúng vòng 8 điểm…Biết Quang “đau” lắm anh em cùng trường càng trêu tợn, chế bài “Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc” thành bài văn tế cho Quang. Bằng xanh, chia tay giấc mơ chuyển tiếp sinh…
Không chịu chia tay với khoa học cũng như đất nước Bạch Nga, Quang về Hà Nội có một năm, rồi quay lại trường cũ làm thực tập sinh, kịp làm mỗi việc tốt lành là cưới vợ – hè 87 anh phải “cưới chạy” (đi Nga) nên cưới luôn vào tháng 7 âm lịch, có lẽ cô bạn học ngoại ngữ cùng thành phố lúc đó còn chưa biết thế nào là “tháng cô hồn”…
Từ 1984 ký túc xá số 2 BGU tiếp nhận thêm một đợt sinh viên ta học vật lý, có hai anh bạn cùng khóa đều tên Hải: Lý Xuân Hải là Hải “gộc” vì cao kều và Phạm Thanh Hải là Hải “con” vì thấp bé hơn. Hải “con” quê Hà Nam, rồi lên học chuyên tổng hợp giống anh Quang, sau đi thi vật lý quốc tế được giải. Hải “gộc” quê Đà Nẵng, bố là hiệu trưởng trường Bách khoa, nhưng đi từ HCM, vì lúc đó trong Nam học 12 năm nên thực ra hơn tuổi hội cùng năm, tuổi Thìn. Mấy sinh viên ngoan, học giỏi lại rơi vào môi trường các anh chị học suốt ngày, thì cũng lại học thôi, mặc dù lúc ấy tình hình Liên Xô bắt đầu có những dấu hiệu biến chuyển: đời sống khó khăn hơn nhiều và mấy nước Đông Âu bắt đầu cựa mình đòi “dân chủ”…
1987 Quang “phơ” quay lại trường làm thực tập, và với khả năng học hành của mình chỉ sau một năm anh xin được làm luôn nghiên cứu sinh. Hai chú em tên Hải năm dưới rút kinh nghiệm các bậc đàn anh đàn chị, học hành thi cử cẩn thận lắm, và thế là tốt nghiệp “bằng đỏ” và chuyển tiếp sinh như dự kiến. Đợt ấy nghiên cứu sinh Quang đón vợ sang chơi mấy tháng – cô giáo đang dạy học ở Hà Đông chỉ nghỉ phép được thế thôi…Mấy năm ấy Quang cũng xoay sở làm ăn các kiểu, nhưng chưa “cứu nước cứu nhà” được gì đáng kể. Khi hai ông đàn em tốt nghiệp xuất sắc và bắt đầu làm chuyển tiếp sinh, thì 1990 Quang “phơ” thành phó tiến sỹ và về nước…
Quang quyết định vào miền đất hứa Sài Gòn, đầu quân chỗ anh Vinh “đen” Cotec, và làm phần mềm tại Softpro Cotec. Thời đầu những năm 90 Mỹ mới chuẩn bị bỏ cấm vận thì Vinh “đen” là một trong những ngôi sao sáng về làm kinh tế, và Cotec thực chất là một tập đoàn đa ngành nghề vào loại đầu tiên tại Việt Nam, khá lớn và rất đa dạng. Vinh “đen” là người có rất nhiều ý tưởng đi trước thời đại, chúng nảy nở ra liên tục trong cái đầu tóc xoăn tít của anh và cứ thế anh “talk business” liên tục, chia sẻ những ý tưởng đó với cấp dưới và bất kể ai, ngày này qua năm khác, anh cũng tập trung được dưới trướng rất nhiều anh chị em học Đông Âu về, sau này đều thành đạt cả. Quang làm ở đó đôi năm, không khấm khá thêm là bao nhưng có lẽ cái “được” lớn nhất của anh là hấp thu được ý tưởng, cách nghĩ của “đại ca”. Sau này Quang cũng hay “talk business” khá nhiều, và trong nhiều mô hình làm ăn của Quang có những nét rất “Vinh đen”!
1992 Quang “phơ” được một ông anh cùng khoa nhưng trên năm rủ quay lại Nga (chứ CCCP tan rã rồi, “quê hương” Minsk nay lại là thủ đô nước khác), lần này là đấu trường lớn Matxcơva, bắt đầu gần như từ con số 0. Đó là “thời loạn” của Nga, vạn sự khó khăn, đầy rẫy nguy hiểm cho cả người Nga lẫn người nước ngoài ở đấy, tuy vậy cơ hội “thành người” thì cũng rất nhiều. Quang có lẽ khá may mắn, nhanh chóng kiếm được tiền triệu và bắt đầu hợp tác với hai sinh viên cùng trường quân đội trẻ trung, vì CCCP tan rã nên đã sớm bước sang con đường kinh doanh là H.H.Anh và T.T.Huy. Nhưng ngay từ lúc đó Quang đã có cảm nhận rằng làm ăn ở Nga thì cũng rất tốt nhưng may rủi lắm, muốn phát triển bền chắc phải ở Việt Nam cơ! Mà Việt Nam bỏ cấm vận thì cũng sẽ lặp lại con đường nước Nga đi qua, tuy không “máu lửa” như vậy nhưng cơ hội lại cũng rất nhiều, có kinh nghiệm rồi nên triển khai ở trong nước. Cũng có thể vì người vợ đang dạy ngoại ngữ ở Bình Đà, cũng có thể vì anh Vinh “đen” đang manh nha mở ngân hàng…nhưng 1994 Quang về nước. Quang về lại kết hợp với anh Vinh “đen”, làm Techcombank, một trong những NHTMCP đầu tiên mới xuất hiện, song song vẫn tiến hành kế hoạch Việt-Nga của minh (thích gọi là “Masan” cũng được, chưa có “Masan”: nhập sâm-panh về dịp Tết, xuất mỳ Vifon, nước tương Nam Dương sang Nga…). Quang bắt tay tham gia sáng lập hàng loạt công ty cả Việt, cả Nga có đuôi “EC”- vẫn ấn tượng bởi loại hình “Cotec” của anh Vinh “đen” thì phải, mà “EC” có lẽ lại hên. Bắt đầu có ý tưởng mới: phát triển sản xuất cả bên Nga, cả ở Việt Nam tùy theo cái gì tiện làm ở đâu, thị trường vẫn là Nga nhưng bị hàng loạt các doanh nghiệp cũng của người Việt Nam khác cạnh tranh quyết liệt. “Masan” vẫn là một khái niệm, chứ nào đã có Masan…
Lúc này hai thanh niên năm dưới đã thành phó tiến sỹ hết rồi. Hải “con” có vẻ thân và kết hợp với người đàn anh A0 Quang “phơ” nhiều hơn. Đây là một chàng mà theo cách dùng từ thời đó là rất “bôn sệt”, đầu óc luôn tính toán việc kiếm tiền chứ cũng chẳng biết tiêu tiền thế nào, vì có nhu cầu gì đâu, thậm chí còn khá coi thường tiền! Tuy coi thường nhưng Hải “con” luôn muốn chứng tỏ khả năng kiếm ra nhiều tiền hơn nữa, cách nào cũng kiếm được tiền, mà có lẽ thế thật khi người ta chỉ nghĩ đến chữ “tiền” thôi. Lên Matxcơva làm ăn, Hải “con” đưa ra mấy mô hình mới rất thành công, như nhập hàng bật lửa, bao cao su từ Trung Quốc về Nga, hay mô hình công ty du lịch GSO…cả hai đều lãi suất tốt và đến nay vẫn hoạt động ngon lành, nhưng Hải “con” hào phóng tặng hết lại cho những người bạn làm cùng, đối với Hải quy mô thế vẫn là quá nhỏ…Hải “gộc” cũng lên Matxcơva làm ăn, nhưng số có vẻ vất vả đường “buôn bán”. Bạn bè nhớ nhất chuyện Hải làm ăn với một đồng hương, thế rồi bị maphia Nga tóm làm con tin, để chờ bạn đồng hương kia thanh toán hết tiền hàng rồi mới thả người. Nguy hiểm kinh người, nhưng vào cái thời loạn lạc ấy thì cái gì cũng có thể xảy ra…Ngay maphia cũng phải thấy “nể” một chàng Việt Nam đẹp trai lịch lãm và rất bĩnh tĩnh ấy, và chúng đối xử với Hải rất trọng thị, trong mấy ngày có thể “thịt”anh bất cứ lúc nào ấy chúng đưa Hải “gộc” đi tắm hơi, ăn thịt nướng chứ không hề bạc đãi, cho đến khi thanh toán xong rồi được thả về! Nhưng có lẽ đầu óc toán-lý của L.X.Hải hợp với làm ăn bài bản hơn, và thế là L.X.Hải quyết định về nước.
Câu chuyện “người Việt dạy cho người Nga ăn mỳ ăn liền, tương ớt…” bắt đầu từ 1996, quy mô ban đầu khá nhỏ lẻ thôi, mãi sau khi “đánh” thử từ nhà sang thấy bán được bộ ba Quang-H.Anh-Huy mới tổ chức sản xuất, và thế là một xưởng mỳ với mấy dây chuyền khá thô sơ, vài trăm nữ công nhân Nga…bắt đầu hoạt động tại ngoại ô thành phố Ryazan cách thủ đô hơn 200 km. Cái “máy in tiền” này còn hoạt động đến mãi về sau, cho đến cả khi người Việt đua nhau mở những nhà máy mỳ lớn, hiện đại hơn nhiều…“Masan”-một thương hiệu lớn thời nay đã ra đời muộn hơn nữa, người sáng lập gồm Quang, T.T.Huy, H.H.Anh và P.T.Hải, tuy vậy có lẽ nó giống với một thỏa thuận hợp tác anh em hơn, chứ làm gì có pháp nhân Masan nào. Có lẽ ít ai biết đó là tên ghép của 2 công ty tại Nga: Sanmex và Mapro. Chỉ biết là sẽ xuất nhập khẩu Nga-Việt, Quang về nước để lại công ty cho T.T.Huy, P.T.Hải quản lý, còn công ty nữa của của H.Anh. Masan lúc đó cũng không khác nhiều một công ty XNK của Cotec là bao! Toàn những cái đầu trẻ chỉ muốn làm những việc “dời non, lấp biển” nhưng phải nói là chưa có ý tưởng gì xuất chúng vào thời điểm này cả, chưa có “bóng dáng của thiên tài”. Sau này Quang đưa ra khẩu hiệu “Vietnam can do” cũng rất ít người cảm nhận được đó không chỉ là khẩu hiệu suông, vì ngoài Quang ra ít ai hiểu sẽ “do” kiểu gì đây…À không, có đấy, Quang “phơ” bắt đầu thể hiện khả năng quy tụ các tài năng khác, bắt đầu từ người quen, bạn bè, đàn em…và thấy được thế mạnh của từng người – điều này có lẽ Quang hơn anh Vinh ‘đen”, vì đàn anh “tinh hoa phát tiết” cái gì cũng biết, cũng “talk business” được hết, chả kịp xem đàn em có triển khai được không…
L.X.Hải về Việt Nam và đứng trước chọn lựa: đầu quân cho anh Quang cùng trường hay anh Kiên “đầu bạc”. Hải về làm phó cho một ông anh cùng khoa-cũng là một nhân vật rất giỏi giang và đa tài-người này đang làm GĐ một chi nhánh ACB, và thế là số phận đưa đẩy L.X.Hải gặp ông trùm tài chính Kiên “đầu bạc”. Con mắt tinh đời của Kiên sớm nhìn ra những tố chất quản lý tuyệt vời của Hải, và từ 1996 Hải bắt đầu làm việc ở ngân hàng ACB với các chức danh quản lý, nơi anh thể hiện mình rất thành công với khả năng tổ chức, tạo lập niềm tin cho các cổ đông, đối tác…Trong Masan P.T.Hải không cảm thấy hài lòng với việc buôn bán mấy mặt hàng cà chua, dưa chuột bao tử, tương ớt xì dầu từ Việt Nam tại Nga, mà trong những năm 90 ấy bọn Nga giàu lên chóng mặt, có rất nhiều mô hình hấp dẫn Hải “con” hơn nhiều, miễn là có tài tổ chức: công ty đa cấp MMM, những dự án dotcom…Mà ở Nga thì Hải không thể giỏi tổ chức như đàn em nhanh nhẹn H.H.Anh, như T.T.Huy –những người đã bứt phá lên rất nhanh trên thương trường xứ Nga- nên anh bắt đầu suy nghĩ về hướng Việt Nam…
Masan trong những năm cuối 90 ấy vẫn tăng trưởng tuy không khỏi chật vật, ở Việt Nam thì đó chỉ là một công ty No Name, ở Nga thì gặp phải cạnh tranh quá mạnh về mỳ, gạo, tương ớt xì dầu từ đồng hương bên Nga, nhất là từ phía Rolllton…H.H.Anh và T.T.Huy mỗi người một công ty làm về xuất nhập khẩu và H.Anh thêm dịch vụ vận tải, Huy thêm phần sản xuất, tất cả khá giống nhau vì cùng trong Masan và sẵn sàng tương trợ nhau cũng như…cạnh tranh với nhau! Chỉ có một điều các công ty Masan này khác biệt với đại đa số những công ty Việt Nam khác: tuy chỉ buôn bán những thứ “dưa cà, mắm muối” nhưng luôn sử dụng những giải pháp IT hiện đại nhất, bảo mật được coi trọng hàng đầu (trong khi thói quen của các “soái” Việt khác là dùng điện thoại cầm tay, một hai cái máy tính, thêm cái máy in, máy fax là thừa đủ rồi…), cùng một chuẩn với Masan trong nước! Sau này các công ty của các “soái” người Việt đều học theo cách làm này của 2 công ty Masan kia, và có lẽ ai càng chú trọng đến IT người đó càng thành công…Ở Việt Nam, tuy đang lúc không hề dễ thở, khác với đại đa số các công ty người Việt khác Quang rất chú trọng đến nguồn nhân lực, không tiếc tiền liên tục mời những chuyên gia cao cấp của các tập đoàn đa quốc gia về giảng dạy, training cho nhân sự của mình. Có lẽ vì thế mà Masan sau này mang tiếng “sính ngoại”, thậm chí nhiều người cứ nhầm tưởng là tập đoàn đa quốc gia…
Vào lúc khó khăn nhất chính là lúc Quang “Masan” thể hiện vai trò nhà tư tưởng, “người cầm lái” của cả nhóm: trước mốc 2000 Quang đặt mục tiêu lập doanh nghiệp tỷ đô vào năm 2010! Đấy không phải là khẩu hiệu suông, mà có kế hoạch triển khai rõ ràng: triển khai 3 hướng kinh doanh sản xuất, chỉ cần 1 hướng thành công rực rỡ thì giới hạn tỷ đô khả thi! Phải nói là chả mấy ai đủ lòng tin vào cái mốc “1 B” đó, vì đó là con số quá kinh khủng dành cho một doanh nghiệp Việt Nam vào thời điểm 2000, thậm chí khi đó thị trường chứng khoán mới chuẩn bị ra đời! 3 hướng đó là: Masan Marts; ITT (EPR-quản trị doanh nghiệp) và Masan Food. Chỉ cần một hướng thành công…
Quang là một nhà tổ chức đúng nghĩa, luôn nghĩ về “sơ đồ”, “mô hình” và tái tổ chức các công ty liên tục, thay đổi cổ đông và hình thức quản lý tài sản cũng chóng mặt. Masan chính thức thành lập 2002 (mặc dù họ kỷ niệm 20 năm thành lập trong năm nay-thế nào cũng có lý cả!), đó là Masan Consumer với doanh thu cả năm chỉ 25 tỷ VND. Khó nhất là tìm được đúng người, Quang đã mời về Masan được “nhà phù thủy” sinh năm 1973 Trương Công Thắng từ tay P&G với chức danh TGD và “nhiệm vụ bất khả thi”: đưa doanh số sau 5 năm đến 2008 lên 500 tỷ VND. Chin-su là một điểm sáng trong phần sản xuất và kinh doanh của Masan trong thời gian sau năm 2000. Để tạo đột phá trên thị trường Nga Masan đã đưa ra một sản phẩm xì dầu với mẫu mã chai lọ hoàn toàn mới, có nét vuông cả ở phần nắp lẫn phần thân chai. Nó mang lại thành công bất ngờ ở Nga, hình dáng cái chai dễ cầm nắm, tên gọi lạ nhưng dễ nhớ này lập tức được bán “cháy hàng”, và sau một thời gian ngắn lại có một quyết định khá táo bạo nữa của Quang: đưa Chin-su ra chiếm lĩnh thị trường trong nước, và sau đó là đưa mỳ ăn liền ra quyết liệt “thi đấu sân nhà”-chiếc bánh thị trường không hề nhỏ ấy cần phải được chia lại! Từ một nhà sản xuất tý hon Masan tuyên chiến thẳng thừng với những “ông lớn” về mỳ: Vifon, Acecook…và về nước chấm, bột nêm như Knorr…Thời điểm cũng khá thuận lợi, vì Quang và H.Anh đã cùng Sơn “Eurowindow” chiếm lĩnh được Techcombank. Trương Công Thắng đã đưa vào mô hình bán hàng khác hẳn: không chấp nhận đại lý nợ tiền hàng, mà đổ rất nhiều chi phí vào marketing (10 triệu USD là con số “không tưởng tượng được” trong thời điểm đó). Thắng đã hoàn thành quá xuất sắc kế hoạch: doanh số 2008 tăng lên không phải 500 tỷ, mà 800 tỷ VND! (và 2008-2013 tăng lên 10000 tỷ!!!)
Hải “con” đã tách hẳn ra khỏi Masan trước đó và là người đầu tiên định hướng về Việt Nam, có lẽ ở Nga đã hết đất “diễn”. Cũng là một người rất nhiều ý tưởng và giỏi về IT Hải triển khai những dự án vừa vừa, mà người Nga đã gặt hái thành công tại Nga như “Trường Xưa” (trang mạng cho những người cùng trường, cùng lớp xưa kia dễ tìm được nhau), đào tạo chứng chỉ kinh doanh BĐS qua mạng, đào tạo kinh doanh mạng online…và quan trọng nhất là “Học làm giàu” từ 2006 với pháp nhân IDT. P.T.Hải về nước khá sớm, quy tụ một số anh em bạn bè nhưng chủ yếu Hải làm là chính, thực hiện những dự định của chính mình…Có lẽ nếu Hải tập trung toàn lực vào làm mạng xã hội (và không phải người Việt, dùng tiếng Anh) thì chúng ta ngày nay đang dùng sản phẩm của Hải chứ không phải Facebook của chàng Mark, xin đừng cười, hoàn toàn có thể đấy, chứ FB vào năm 2004 mới khai sinh và chỉ là một trong hàng ngàn mạng xã hội bé tý, trong việc đó thì Hải đã đi trước Mark! Nhưng làm giàu bằng cách dạy người khác “học làm giàu” lôi cuốn Hải hơn, “đa cấp” nó như một “định mệnh” đối với Hải! Từ một chàng nói năng nhát gừng bỗng đâu Hải thành một diễn giả rất cuốn hút, có thể thao thao bất tuyệt và đi vào lòng người…
Thị trường chứng khoán bước đầu còn bỡ ngỡ bỗng trở thành một kênh kiếm tiền hấp dẫn, các “soái” người Việt ở nước ngoài đều không thể bỏ qua yếu tố này. Nhưng “soái” thì không thể theo đuôi, bỏ tiền vào “cổ”, “chứng” như nhà đầu tư thông thường, mà phải tạo ra sản phẩm, phải dẫn dắt đám đông. Rất nhiều “soái” Đông Âu đã nhao về Việt Nam để không bỏ lỡ thời cơ, nhưng bỏ hẳn thị trường Nga mà quay về giống Quang năm nào thì chỉ có H.H.Anh, T.T.Huy và sau là N.T.Dũng VP Bank vào những năm 2005-2006 ấy. Masan lúc đó ở Việt Nam chỉ còn lại Quang và H.H.Anh, chứ Huy có nguồn đầu tư ngoại khác nên tách ra làm hàng loạt dự án khác, trong đó đình đám nhất là “Đảo Kim cương” ở Thủ Thiêm. Tại sao đồng lòng về Việt Nam, “ngửi” thấy cái gì thì có lẽ chỉ người trong cuộc mới tỏ tường thôi!
Trước đó một trong 3 định hướng của Quang đã kịp nếm mùi thất bại: Masan Marts mở ra hàng loạt tại HCM từ 2001 đến 2004, nhưng không đủ sức để thay đổi thói quen mua sắm của người tiêu dùng, họ vẫn chưa quen vào những cửa hàng nho nhỏ nhưng văn minh kiểu Seven/Eleven này, mà cứ thích ra chợ cơ! Masan Marts thất bại, đóng cửa sáu chục cửa hàng, bây giờ nhìn lại mới thấy đó là do “đi trước thời đại” quá xa, chứ như bây giờ cái gì cũng phải “chuỗi”, mà đã “chuỗi” rồi thì dễ bán có lời lắm, từ “Thế giới di động” cho đến “Món Huế”, “Phở Hùng”…Định hướng thứ hai của Quang là ITT cũng chả mấy tươi sáng, vì Masan Marts thất trận thì còn gì nhiều đâu mà quản lý! Thế là phân công khá rõ ràng, H.H.Anh tập trung vào Techcombank, còn Quang lo định hướng cuối cùng: Masan Food. Những nhãn nước chấm Chin-su, Nam Ngư, Tam Thái Tử…những loại mỳ Omachi “không sợ nóng”, Tiến Vua…làm Masan (nay đã có công ty con Consumer đảm trách) trở thành người chiến thắng trong cuộc đối đầu gay gắt của các ông lớn – vâng, lúc nay Masan đã trở thành một ông lớn…Và tên “Phơ” đi vào dĩ vãng, bây giờ người ta đã quen gọi cái tên Quang “Masan”. 
Hải “con” có lẽ kiếm tiền dễ dàng hơn cả. Thuê hẳn cả tầng cao của tòa nhà Chamvit làm văn phòng “xịn” nhất Hà Nội, dạy cả người có tiền lẫn người mơ ước có tiền cách thức làm giàu khá đa dạng, mà ai có dự án, có ý tưởng thì Hải và đội ngũ sẽ giúp để hình thành dự án khả thi và tìm nhà đầu tư. Cũng là một dạng đa cấp nhưng Hải triển khai sớm và “có học” nhất, không giống những tổ chức MLM “nhà quê” khác, chỉ có mỗi một mồi câu là lãi suất. Thông điệp Hải đưa đến cho những kẻ muốn “học làm giàu” là: muốn làm giàu phải học, và học được! Và thông điệp ẩn tiếp theo là: nếu bạn vẫn chưa học được hoặc lười, thì đưa tiền đây chúng tôi sẽ đầu tư hộ cho, bạn chỉ việc ngồi yên mà “học”! Muốn các “học sinh” thấy mình có sản phẩm hải và công ty IDT của mình đã triển khai bán hàng qua mạng từ 2010, sớm hơn Vingroup nhiều năm, một số mặt hàng mua của IDT qua mạng còn rẻ hơn đi chợ. Rồi thông tin đến tai “học sinh” là IDT là đối tác chiến lược của BTA (T.T.Huy), là chủ đầu tư vài dự án nghìn tỷ rất tiềm năng. Và cú ngoạn mục là Hải trở thành “vua macca” tự phong với sứ mệnh đưa Việt Nam trở thành “quê hương của macca thế giới”, với mức đầu tư trồng thử cả nhiều nghìn ha nhưng chẳng ai biết rõ quy mô thế nào, rồi sắp tới Hải trở thành “vua macca thế giới”…Hải trở thành nhà thuyết trình vĩ đại, và các nhà đầu tư có tiền nhàn rỗi phải nài nỉ, Hải mới chấp nhận vay tiền! Tất nhiên lãi suất cũng phải “ngon lành” 30-60% năm cho nhà đầu tư…
Trong ba người có lẽ L.X.Hải nổi tiếng hơn cả. Anh trở thành Tổng giám đốc ACB, được bầu chọn là “lãnh đạo ngân hàng xuất sắc nhất Việt nam” hai năm 2007 và 2010, nhưng anh luôn hiểu mình vẫn là người làm thuê cho các ông chủ như Kiên “bạc”, như Trần Mộng Hùng, không hề nhận mình là “doanh nhân thành đạt” mặc dù rất xứng đáng…và vũ khí tự bảo vệ tốt nhất cho mình là làm ăn minh bạch, kín kẽ. N.Đ.Quang vẫn trung thành với chiến lược của mình, quyết không “thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào”, tức là không phân tâm khi nhiều người vớ bẫm khi nhảy vào thị trường BĐS vô cùng sôi động trong những năm ấy. Ngược lại anh một mặt anh tập trung cho hướng phát triển Masan Food, mặt khác anh chuẩn bị kỹ lưỡng cho thương vụ ngoạn mục nhất của đời mình, mà nó có lẽ xứng đáng đi vào mọi giáo trình dạy về kinh tế hiện đại của Việt Nam ngày nay. Quang cho Masan thành lập rất nhiều công ty con, mỗi công ty đều có chức năng, nhiệm vụ, sứ mệnh khá rõ ràng (những ý tưởng bay bổng năm nào của anh Vinh “đen” dưới bàn tay tổ chức xuất sắc lần lượt trở thành hiện thực). 
Và thế là 2/11/2009 cổ phiếu Masan chính thức chào sàn! Thời điểm đó dân tình vẫn còn háo hức đầu tư cổ phiếu lắm, chả có nhiều cổ phiếu “rẻ hơn rau” như bay giờ! Nhưng quan trọng nhất, tôi xin dùng chữ “thiên tài” ở đây, đó là định nghĩa thế nào là cổ phiếu MSN! Tin chắc rằng đại đa số những nhà đầu tư nhỏ lẻ, thậm chí cả nhiều chuyên gia nữa, trước đó hay ngày hôm nay cũng không thể giải thích cho gãy gọn “MSN” là gì! Điều đó chỉ có thể hiểu được nếu người ta bỏ công ra đọc “Bản cáo bạch niêm yết lần đầu”của Tập đoàn Masan-nếu hiểu nôm na đó là tất cả mọi giá trị hữu hình và vô hình mà Quang và các cộng sự sở hữu tại thời điểm đó! Một tuyệt phẩm về mặt kinh tế! Và ai đọc rất kỹ thì mới có thể hiểu được MSN được xây dựng lên từ Satec-Quang dùng một công ty nhỏ nhất và “sạch đẹp” của tập đoàn, công ty giao nhận vận tải (forwader)! Đối với người chơi chứng khoán thì đâu có quan trọng, người ta chỉ cần tự hiểu Masan đó là Techcombank, đó là Chin-su, đó là xuất khẩu Việt-Nga…Masan được định giá 4700 tỷ VNĐ.
Nhưng như thế vẫn chưa đủ “nét căng”-Masan đi tiếp một bước cũng đầy bất ngờ và ngoạn mục nữa! Năm 2010 Masan mua lại mỏ wolfram Núi Pháo từ tay Dragon Capital và các cổ đông VIệt khác – chưa cần bàn kỹ về việc mua lại thế nào, làm gì tiếp với nó…cái mà Masan cần và đủ, đó là Núi Pháo được mệnh danh là mỏ wolfram lớn nhất thế giới! Masan bước hẳn vào một lĩnh vực mình chưa hề có chút kinh nghiệm nào và tiềm ẩn đầy rủi ro. Nhưng với những ai đã bỏ công đọc xem MSN là gì thì tất nhiên là hiểu, bản nhạc nào cũng cần có khúc cao trào…”Vua macca thế giới” của P.T.Hải là một khúc cao trào, nhưng thiếu đi mất bản nhạc! Giấc mơ doanh nghiệp “1 B” đã thành hiện thực, tháng 4/2011 tập đoàn đầu tư Kohlberg Kravis Roberts (KKR) ký kết với Masan về việc sẽ mua 10% cổ phần của Masan Consumer với giá 159 triệu USD. Qua thương vụ này, Masan Consumer được định giá gần 1,6 tỷ USD. Quang mạnh tay đẩy mạnh các kế hoạch M&A như những thương vụ “Cám con cò”, Vinacafe, nước khoáng Vĩnh Hảo, Vissan… và thuê những nhân sự nước ngoài chất lượng bậc rất cao. 
Nhưng bắt đầu thời điểm khủng hoảng kinh tế cả thế giới lẫn trong nước, và điều này tác động đến mọi doanh nghiệp, mọi kế hoạch của bất cứ ai. Đầu tiên là ngành ngân hàng tài chính, với “đại án bầu Kiên”. Nguyễn Đức Kiên bị bắt 8/2012 và cuối tháng đó khắp nơi râm ran đồn đại là người tiếp theo sẽ là Nguyễn Đăng Quang. Đến mức Quang đang ở Mỹ cũng phải vội về, để xuất hiện trước công chúng cho yên lòng các nhà đầu tư. Nhưng L.X.Hải thì không được may mắn như thế, anh bị bắt sau Kiên ít tháng, cùng với hàng loạt lãnh đạo của ACB – ngân hàng TMCP tốt nhất Việt Nam vào thời điểm ấy. Để “đánh” Kiên có sẵn cớ là “đại án Huyền Như” và nguyên tắc “có thể làm bất cứ việc gì luật pháp không cấm” của Luật Doanh nghiệp mới bị bỏ qua, và cả xã hội đều hiểu người oan ức nhất ở đây là “người làm thuê cao cấp” L.X.Hải, vì với “tội danh” như Hải có thể bỏ tù lãnh đạo của bất cứ ngân hàng thương mại cổ phần nào. Tôi không quên được hình ảnh của L.X.Hải vào phiên tòa sơ thẩm tuyên án, tòa đọc bản án hơn bốn tiếng đồng hồ và cho phép các bị cáo được ngồi, chỉ được nghe thôi chứ làm gì còn điều kiện nói nữa, nhưng riêng L.X.Hải vẫn cố đứng từ đầu đến cuối. Trong bộ áo sọc, đeo kính cận, với cái dáng đứng liêu xiêu của mình Hải như muốn nói với cả xã hội về nỗi oan tày liếp của mình…Sau đó đến phiên phúc thẩm, Kiên và Hải y án, Hải nhận 8 năm tù giam.
Những năm cuối này Masan như con mãnh hổ, vẫn tiếp tục chính sách M&A mở rộng ngành hàng của mình, tận dụng mạng lưới phân phối và điểm bán hàng ít đối thủ nào có được. Năm 2014 Trương Công Thắng bất ngờ từ giã Masan, sau gần 12 năm thành công vang dội (sau đó anh còn giúp “Thế giới di động” được như ta biết ngày nay, rồi nay hình như đã từ bỏ thương trường?!). Masan không theo đuổi kế hoạch thứ hai (EPR) nữa, mà trở thành người sử dụng lớn. Vẫn tiếp nối truyền thống sử dụng công cụ IT hiện đại nhất từ những năm 90, bây giờ mỗi năm Masan tiêu tốn hàng trăm tỷ cho mục đích: biết mọi thông tin về hàng hóa của mình trong real time, dù nằm ở kho hay bất cứ đại lý nào! Một quyết định rất mạnh mẽ nữa là đưa tất cả thông tin lên “đám mây”, dùng Google Amazon Oracle – hiện nay Masan là doanh nghiệp Việt Nam có mức độ hỗ trợ IT tốt nhất! Muốn đạt được mục tiêu một lần nữa Quang lại tìm “người tài”: thuê tài năng trẻ Ng. vừa giỏi IT vừa có tài tổ chức làm điều đó trong 24 tháng với mức lương 18 tỷ (anh đã hoàn thành chỉ sau một năm rưỡi!). Masan thuê FPT Soft làm Games để phục vụ việc marketing và bán hàng (gamification)- một phong cách quản lý và bán hàng còn rất mới đối với Việt nam (dành cho ai muốn tìm hiểu sâu: nôm na là Masan “gây nghiện” cho tất cả các đại lý của mình ở khắp các tỉnh thành, họ sẽ được nhân viên Sales của Masan giúp cho tích hợp mọi thông tin qua những Ups của Masan, qua đó Masan sẽ có được đầy đủ mọi thông tin về hàng hóa của mình!). Chin-su nay chỉ là một nhãn hàng có rất ít đóng góp cho doanh thu tổng thể đã rất lớn của Masan, nhưng nó chính là “bộ mặt” của tập đoàn. Mục tiêu của Masan và Quang trong thời gian này: đưa hàng của Masan đến với thị trường Asean, sân chơi đã mở. Núi Pháo cũng đã lên sàn UpCom, kế hoạch thu xếp tài chính cho những cuộc chơi lớn vẫn thực hiện bài bản.”Trong túi” của Masan vẫn còn những con bài lớn vẫn chưa đưa “lên sàn” mà còn đang để dành: Techcombank, Masan Food…
Hải “học làm giàu” âm thầm hơn hai người bạn kia nhiều, nhưng sóng gió rồi cũng đến với anh. Cũng như hình mẫu MMM ở Nga năm xưa, rồi cũng đến lúc những người đóng tiền không nhận được tiền lãi của mình, sơ đồ Ponzi thì vẫn sẽ là Ponzi…Anh bị tạm giam từ 1/2016 vì những cáo buộc của một số nhà đầu tư. Một người rất thông Minh như P.T.Hải thừa hiểu được rằng khó mà kết tội được anh không “làm thật” – vì anh có trồng macca, có đầu tư BĐS, vì nhà đầu tư không hề bị ép buộc phải đầu tư vào IDT của anh. Nhưng điểm yếu duy nhất của anh…à mà thôi, khi chưa bị kết án thì chưa thể nói được gì nhiều. Còn nhiều lắm những “quân tướng”, “học trò” của P.T.Hải áp dụng những bài học, ý tưởng của Hải chứ không hề dừng lại. EGame (Education Game) là một chương trình của Hải triển khai lỡ dở. APAX English là một mô hình hàng “con cháu” bắt chước ý tưởng của anh, hãy xem tiếp các bước phát triển của nó tiếp nhé các bạn! Đến một lúc nào đó có ai viết lại lịch sử các mô hình “đa cấp” tại Việt Nam thì Hải sẽ có một vị trí đáng buồn nhưng rất trang trọng trong câu chuyện ấy…
3 cuộc đời của ba nhà vật lý từ cùng một mái trường xưa, nay thật khác xa, “một người về đỉnh cao-một người về vực sâu…”. L.X.Hải đang thụ án trong Nam nơi mảnh đất quê hương anh. Một TGĐ ngân hàng danh giá với hơn 300 chi nhánh khắp toàn quốc, hào hoa phong nhã, lắm vợ nhiều con ngày nào nay thạo việc “tăng gia”. Nhưng có lẽ Hải đã ổn định được tư tưởng, anh học võ, tập thiền, cũng nhiều năm đã qua rồi, giờ đây anh bình thản chờ ngày đoàn tụ với gia đình, những chuỗi ngày đau thương trong chốn lao tù rồi cũng sẽ tới ngày vui. Những nhà lãnh đạo doanh nghiệp tài ba như L.X.Hải rõ ràng Việt Nam ta vẫn thiếu lắm, và còn rất nhiều người bạn sẵn sàng dang tay chờ đón anh. P.T.Hải còn phải trải qua những ngày nặng nề nhất ở phía trước, mà nặng nề nhất bao giờ cũng là sự “bất định”, kiếp nạn này một mình anh gánh chịu sẽ còn nặng nề hơn rất nhiều, chỉ mong anh còn thời gian để lại quay về thực hiện những ý tưởng rất không giống ai của mình. N.Đ.Quang với Masan vẫn trên con đường đến những đỉnh cao mới, nhưng cuộc đời đỉnh cao bao giờ cũng đi liền với những dốc đứng, với những ngã rẽ cuộc đời. Quang cũng hay “talk business” rằng mình cũng đôi ba lần đã cận kề với sự phá sản, nhưng anh không ngại rủi ro, nhất là những rủi ro có thể đo đếm được. Có lẽ Quang may mắn hơn những người anh em kia là có người bạn đời- cô giáo tiếng Nga ở Hà Đông năm nào- mấy chục năm nay luôn chung vai gánh vác, quán xuyến công việc của tập đoàn cùng với chồng. Tại đại hội cổ đông của Masan 2016 Quang gửi thông điệp đến các nhà đầu tư và cổ đông: Nhà đầu tư cần phải kiên nhẫn hơn với doanh nghiệp và một ngày nào đó sẽ được hưởng trái ngọt. “Trái ngọt nằm ở cuối con đường chứ không phải hai bên con đường”! Có lẽ lần này sẽ nhiều người nghe anh, tin anh hơn là vào năm 2000, khi anh vẽ ra kế hoạch “1 B”. Như mọi lần, kế hoạch của anh hoàn toàn cụ thể về mặt thời gian, con số và hướng thực hiện, chỉ có cái đó không phải là nội dung của câu chuyện hôm nay…
Dân vật lý là dân cũng rất giỏi tính toán, nhưng lại có cảm nhận về tâm linh, xã hội nhạy bén hơn dân toán, và có lẽ vì thế óc tưởng tượng của họ phong phú hơn. Khi chuyển sang kinh doanh họ linh hoạt hơn dân toán, đầu óc hơn dân văn, dũng cảm hơn dân kinh tế, thông thái hơn dân học luật…Nhà vật lý vĩ đại Albert Einstein từng nói: “Chỉ có 2 cách sống trên đời: một là coi như chẳng có phép màu nào hết, hai là coi như xung quanh ta tất cả là sự nhiệm màu”. Rõ ràng Einstein đã sống theo cách thứ hai, và ba nhà vật lý cùng khoa trong câu chuyện này có lẽ cũng vậy. Chúc cho họ sẽ hái được “trái ngọt ở cuối con đường” vì câu chuyện của ba nhà vật lý bỏ sang kinh doanh này vẫn còn đang tiếp diễn.
Nguồn: ST