Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016

Điều kiện để doanh nghiệp tạm ứng cổ tức

Nhiều DN đang vào mùa tạm ứng cổ tức năm 2016. Xin hỏi, điều kiện để DN tạm ứng cổ tức? DN chúng tôi có lợi nhuận bán niên không cao nhưng lợi nhuận chưa chia còn nhiều, nên lưu ý gì nếu muốn thực hiện tạm ứng cổ tức?

Chuyên gia tư vấn xin trả lời như sau:
Luật không quy định cụ thể về thời hạn tạm ứng cổ tức cho năm tài chính hiện tại (2016). Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 2, Điều 132, Luật Doanh nghiệp 2014, cổ tức trả cho cổ phần phổ thông được xác định căn cứ vào số lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty. Công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức của cổ phần phổ thông khi có đủ các điều kiện sau:
a) Công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
b) Đã trích lập các quỹ công ty và bù đắp đủ lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty.
c) Ngay sau khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn.
Đồng thời, theo Khoản 2, Điều 149, Luật Doanh nghiệp 2014 và điều lệ công ty thì HĐQT có thể quyết định thời gian và tỷ lệ tạm ứng cổ tức cho năm 2016 dựa trên:
- Mức cổ tức dự kiến 2016 đã được ĐHCĐ thông qua.
- Tình hình sản xuất - kinh doanh hiện tại và kết quả kinh doanh dự kiến trong năm 2016.
Trong trường hợp cụ thể này, doanh nghiệp có lợi nhuận bán niên không cao nhưng lợi nhuận chưa chia còn nhiều, HĐQT có thể thực hiện tạm ứng cổ tức từ nguồn lợi nhuận giữ lại, tuy nhiên vẫn phải căn cứ trên mức cổ tức dự kiến đã được ĐHCĐ thông qua và tình hình sản xuất - kinh doanh của công ty. HĐQT cần lưu ý, phải cân đối được nguồn tiền chi trả và các nghĩa vụ tài chính khác sau khi tạm ứng cổ tức.
Ngoài ra, doanh nghiệp nên xây dựng một chính sách cổ tức lâu dài phù hợp với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Trên định hướng dài hạn đó, tùy từng năm và điều kiện cụ thể, có thể điều chỉnh mức chi trả cổ tức cho phù hợp với tình hình thực tế.

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016

Điều kiện để Nghị quyết Đại hội đồng Cổ đông được thông qua là gì?

Điều lệ của công ty tôi là một DN bảo hiểm quy định một số nội dung biểu quyết tại Đại hội đồng Cổ đông được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 80% tổng số phiếu quyền biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành. Xin hỏi theo luật mới, doanh nghiệp có phải sửa đổi điều lệ này? Và nên quy định như thế nào để đảm bảo quyền cổ đông vì trước đây nhà nước nắm chi phối DN nay cổ đông này đang thực hiện thoái vốn.

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Theo quy định của khoản 1, 2 Điều 144 Luật Doanh nghiệp 2014- Điều kiện để nghị quyết được thông qua: nghị quyết về các nội dung sẽ được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 51% hoặc 65% (tùy từng trường hợp cụ thể) tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành, tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.
Như vậy, Điều lệ của công ty quy định một số nội dung phải được 80% cổ đông có quyền biểu quyết tán thành là không trái luật.
Do luật doanh nghiệp 2014 mới ra đời và có hiệu lực từ 01/07/2015 và dựa trên thực tế hoạt động của doanh nghiệp (trước đây nhà nước nắm chi phối và đang thực hiện thoái vốn tại doanh nghiệp) nên để đảm bảo quyền lợi của cổ đông, phù hợp với luật doanh nghiệp, với cơ cấu cổ đông mới dự kiến thay đổi; cổ đông, Hội đồng quản trị nên đưa nội dung sửa đổi điều lệ công ty (trong đó có nội dung quy định về tỷ lệ tối thiểu để biểu quyết thông qua các vấn đề tại Đại hội đồng cổ đông) ra Đại hội đồng Cổ đông gần nhất để trao đổi thảo luận. Đại hội đồng cổ đông sẽ quyết định có nên thay đổi tỷ lệ 80% theo quy định của điều lệ hiện tại; và nếu thay đổi thì sẽ quy định tỷ lệ nào cho phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp.

Quy chế công bố thông tin mới của HNX có gì mới?

Tổng giám đốc Sở GDCK Hà Nội (HNX) vừa ký Quyết định số 606 về việc ban hành Quy chế công bố thông tin (CBTT) tại HNX, thay thế cho Quy chế CBTT được ban hành tại Quyết định số 250 ngày 6/6/2013. Quy chế CBTT mới hướng dẫn chi tiết các quy định về CBTT mà trong Thông tư 155/2015 chưa quy định rõ.
Ví dụ, theo quy định tại Thông tư 155, DN phải giải trình khi kết quả hoạt động kinh doanh có sự chênh lệch từ 5% trở lên thì tại Quy chế của HNX, quy định cụ thể là áp dụng đối với khoản mục doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế tại báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch quy mô lớn.
Về quy định thời hạn nộp báo cáo tình hình quản trị công ty của tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch quy mô lớn, theo quy định tại Thông tư 155 là chậm nhất 30 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo, tại Quy chế của HNX quy định rõ là ngày 30/7 đối với báo cáo quản trị 6 tháng và 30/1 đối với báo cáo quản trị năm.
Đối với quy định về thời hạn mà tổ chức đăng ký giao dịch phải gửi báo cáo danh sách cổ đông nhà nước, cổ đông lớn, Thông tư 155 không quy định cụ thể, tuy nhiên theo Quy chế của HNX thì tổ chức đăng ký giao dịch gửi báo cáo 6 tháng đầu năm chậm nhất là ngày 30/7, 6 tháng cuối năm chậm nhất là ngày 30/1.
Bên cạnh đó, quy chế mới cũng mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các đối tượng tham gia TTCK phái sinh tại HNX và bổ sung các đối tượng phải CBTT là công ty quản lý quỹ và quỹ hoán đổi danh mục (ETF). Những điểm thay đổi này nhằm đón đầu, chuẩn bị cho việc đưa TTCK phái sinh vào hoạt động trong năm 2017 cũng như hoàn thiện quy định về CBTT của quỹ ETF khi chứng chỉ quỹ ETF đã được đưa vào giao dịch trên HNX từ cuối năm 2014.
Trên tinh thần của Thông tư 155, quy chế CBTT mới bổ sung quy định CBTT bằng tiếng Anh đối với tổ chức đăng ký giao dịch, tổ chức niêm yết, công ty chứng khoán thành viên, tuy nhiên những quy định này chỉ mang tính khuyến nghị.
HNX mong muốn việc công bố thông tin của doanh nghiệp sẽ dễ dàng, thuận lợi hơn, hướng tới mục tiêu minh bạch hóa thông tin doanh nghiệp trên TTCK.

Rút ngắn thời gian giao dịch cổ phần IPO


Ngày 1/11 tới đây, Thông tư số 115/2016/TT-BTC về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 196/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính về hướng dẫn bán cổ phần lần đầu (IPO) và quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần chính thức có hiệu lực.
Điểm đáng lưu ý nhất tại Thông tư 115/2016 là quy định gắn hoạt động đấu giá tại Sở GDCK đồng thời với đăng ký giao dịch cổ phần của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ sau 20 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn thanh toán tiền mua cổ phần qua đấu giá, nhà đầu tư có thể giao dịch cổ phần trên thị trường UPCoM.
Có thể nói, đây là thay đổi mang tính kỹ thuật nhưng tạo ra hiệu ứng đột phá nhất từ trước đến nay đối với vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Nếu như Quyết định 51/2014/QĐ-TTg đã tạo được bước tiến lớn khi bắt buộc các doanh nghiệp nhà nước đưa cổ phiếu sau đấu giá vào giao dịch tập trung trên UPCoM trong vòng 90 ngày kể từ ngày doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì Thông tư 115/2016/TT-BTC đã tiến thêm một bước dài khi quy định đăng ký đấu giá đồng thời với đăng ký giao dịch cổ phần trên UPCOM, nghĩa là cơ chế tự động đăng ký giao dịch trên UPCoM.
Các quy định mới này đã tăng cường tính thực thi pháp luật, nhờ đó, tình trạng các doanh nghiệp chây ỳ, né tránh việc niêm yết, đăng ký giao dịch sẽ được khắc phục mà không cần phải có các chế tài hoặc thực hiện các biện pháp cưỡng chế thực thi khác. Thực tế cho thấy, các giải pháp cưỡng chế thực thi chưa chắc đã hiệu quả.
Với quy định mới này, phương thức cổ phần hóa ở Việt Nam đã đến gần hơn với thông lệ quốc tế. Theo đó, IPO phải gắn với giao dịch trên sàn chứng khoán. Khi nộp hồ sơ đăng ký IPO, doanh nghiệp phải đưa ra kế hoạch niêm yết cổ phần chào bán trên sàn chứng khoán và khi được chấp thuận tiến hành IPO cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã được chứng nhận niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán mà họ chọn.
Bên cạnh đó, quy định này cũng bám sát tiến trình cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ. Trước đây, doanh nghiệp trải qua 4 giai đoạn nộp hồ sơ khác nhau từ đấu giá, đăng ký công ty đại chúng, lưu ký chứng khoán và đăng ký giao dịch. Với Thông tư 115/2016, doanh nghiệp sẽ chỉ phải hoàn thiện một bộ hồ sơ duy nhất gửi đồng thời cho Sở GDCK nơi tổ chức đấu giá, VSD và HNX. Sau khi có kết quả thanh toán, Sở GDCK nơi tổ chức đấu giá sẽ chuyển kết quả trực tiếp cho VSD và HNX, theo đó, các cơ quan này sẽ tự động thực hiện các công việc tiếp theo theo quy định để đưa cổ phiếu lên giao dịch.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn thanh toán tiền mua cổ phần trúng đấu giá, Sở GDCK (nơi tổ chức đấu giá) gửi Trung tâm Lưu ký chứng khoán (VSD), Sở GDCK Hà Nội (HNX) văn bản thông báo giá thanh toán bình quân kèm danh sách người sở hữu cổ phần trúng đấu giá đã được thanh toán. 
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn thanh toán tiền mua cổ phần trúng đấu giá, Sở GDCK (nơi tổ chức đấu giá) gửi Trung tâm Lưu ký chứng khoán (VSD), Sở GDCK Hà Nội (HNX) văn bản thông báo giá thanh toán bình quân kèm danh sách người sở hữu cổ phần trúng đấu giá đã được thanh toán.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn thanh toán tiền mua cổ phần trúng đấu giá, doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) và công bố thông tin về kết quả bán cổ phần kèm theo xác nhận của ngân hàng thương mại nơi mở tài khoản phong tỏa về số tiền thu được từ đợt đấu giá.
Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả bán đấu giá cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hóa, UBCK gửi thông báo xác nhận kết quả bán đấu giá cho doanh nghiệp cổ phần hóa, HNX và VSD.
Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo xác nhận kết quả bán đấu giá của UBCK, HNX đưa cổ phần vào giao dịch trên UPCoM với giá tham chiếu cho ngày giao dịch đầu tiên là giá thanh toán bình quân qua đấu giá.

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

Ông Bùi Kiến Thành: Đổi nợ xấu thành cổ phần, quá lạ lùng

Nợ xấu như những ung nhọt, có khả năng chuyển biến thành ung thư nhưng hoán đổi nợ xấu thành cổ phần doanh nghiệp không khiến nợ xấu biến mất.

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra lấy ý kiến Dự thảo hướng dẫn việc góp vốn, mua cổ phần của các tổ chức tín dụng. Trong Dự thảo trên, có đề cập tới việc hoán đổi nợ xấu thành cổ phần của các doanh nghiệp. Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành đã có những góp ý thẳng thắn về nội dung này. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết của ông.
Theo nguyên tắc, việc hoán đổi nợ thành cổ phần nằm trong phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp. Việc hoán đổi nợ thành cổ phần hoàn toàn phụ thuộc vào sự cân nhắc đầu tư của chủ nợ và trong nhiều trường hợp, ngay trong các thỏa thuận khi vay nợ, việc hoán đổi nợ thành cổ phần đã được đề cập đến.
Tôi lấy ví dụ trường hợp chuyển đổi trái phiếu thành cổ phần. Khi đưa ra quyết định hoán đổi, người sở hữu trái phiếu có thể thấy đầu tư dưới dạng cổ đông ở doanh nghiệp sẽ có lợi hơn chỉ đơn thuần nhận lãi từ khoản trái phiếu đã mua; hoặc người sở hữu trái phiếu có những tính toán khác nhằm tới lợi ích lâu dài hơn.
Tuy nhiên, muốn làm được như vậy, ngay khi phát hành và bán trái phiếu, đã phải có thỏa thuận người sở hữu trái phiếu được quyền lựa chọn chuyển hay không chuyển sang cổ phần.
Lý thuyết là vậy, bây giờ chúng ta sẽ bàn tới nội dung hoán đổi nợ xấu trong Dự thảo Hướng dẫn việc góp vốn, mua cổ phần của các tổ chức tín dụng đang được Ngân hàng Nhà nước đưa ra lấy ý kiến.
Dự thảo đưa ra quy định, các tổ chức tín dụng được thực hiện hoán đổi nợ thành vốn góp, mua cổ phần, nhưng phải đảm bảo các điều kiện: chỉ được thực hiện đối với nợ thuộc nhóm 5 hoặc nợ đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro; tổng mức góp vốn, mua cổ phần dưới mọi hình thức không vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của ngân hàng thương mại, không vượt quá 60% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của công ty tài chính*.
Có thể thấy ngay, nợ được hoán đổi theo Dự thảo Thông tư hướng dẫn nói trên là nợ xấu, thuộc nhóm 5 hoặc nợ đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro. Theo Thông tư 15/2010/TT-NHNN, nợ nhóm 5 là nợ có khả năng mất vốn, phải trích lập dự phòng rủi ro 100%. Vì thế, cần thiết phải đặt ra các câu hỏi:
Câu hỏi 1: Tổ chức tín dụng dùng nguồn tiền nào để tạo ra nợ xấu?
Thoạt nghe về chuyện hoán đổi nợ xấu lấy cổ phần, dư luận có thể bị nhầm lẫn, tổ chức tín dụng không cần dùng tiền để thực hiện việc hoán đổi này. Họ chỉ lấy nợ đổi thành cổ phần hay nói cách khác, lấy tờ giấy này đổi thành một tờ giấy khác.
Nhưng nếu vậy, nguồn tiền (mà hiện đã biến thành nợ xấu), tổ chức tín dụng đã huy động từ đâu? Trong trường hợp, tổ chức tín dụng muốn thực hiện hoán đổi từ nợ xấu thành cổ phần, trách nhiệm trả lại khoản tiền (đã biến thành nợ xấu) cho các chủ tài khoản gửi tiền ở ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng sẽ được thực hiện như thế nào?
Dự thảo thông tư có đề cập, tổng mức góp vốn không vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của ngân hàng thương mại, không vượt quá 60% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của công ty tài chính. Qua đó, người dân có thể hiểu, ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng chỉ được dùng tiền trong phạm vi vốn điều lệ và quỹ dự trữ, nghĩa là, dùng tiền của chính họ chứ không phải tiền huy động được của các cá nhân, tổ chức trong xã hội.
Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại nhỏ và trung bình có còn vốn điều lệ hay không? Theo số liệu vào tháng 9/2015, tổng vốn điều lệ của 36 ngân hàng thương mại tại thời điểm đó xấp xỉ 310.000 tỷ đồng, trong đó, nhóm 12 ngân hàng cuối bằng có tổng vốn điều lệ chỉ xấp xỉ vốn 40.000 tỷ. Trong khi đó, báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2016 cho biết, VAMC đã mua 241.000 tỷ đồng nợ xấu. Nếu cộng lại những khoản nợ xấu giao cho VAMC và lỗ lũy kế thì gần như chắc chắn, nợ xấu của các ngân hàng thương mại vừa và nhỏ đã vượt quá vốn điều lệ.
Xin được nói thêm rằng, Nhà nước đã tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại hoạt động bình thường bằng cách thành lập VAMC, tạm giữ nợ xấu của hệ thống tín dụng trong vòng 5 năm, phát hành trái phiếu đặc biệt để các ngân hàng thương mại có thể vay tái cấp vốn tiếp tục hoạt động bình thường và thực hiện yêu cầu trích lập dự phòng rủi ro 20% mỗi năm. Nếu các ngân hàng thương mại làm được như vậy, sau 5 năm, các ngân hàng thương mại đã giải quyết xong nợ xấu.
Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện việc này đã không nghiêm túc, nhiều ngân hàng không trích lập dự phòng rủi ro theo quy định và Ngân hàng Nhà nước cũng đã không nghiêm khắc thực hiện yêu cầu này.
Tại phiên họp toàn thể của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội ngày 7/10 vừa qua, khi đại diện Ngân hàng Nhà nước cố thuyết phục các thành viên ủy ban rằng tỷ lệ nợ xấu hiện nay ở ngưỡng an toàn (2.66%), Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đã hỏi thẳng: “Về xử lý nợ xấu của ngân hàng, đồng chí nói nợ xấu 2,98% đó là nợ mới thôi, còn 200.000 tỉ đồng nợ cũ thì sao”.
Đến thời điểm hiện tại, khi việc đưa nợ xấu về VAMC đã không đạt được hiệu quả mong muốn, Ngân hàng Nhà nước lại đặt ra phương thức ngược lại, chuyển nợ xấu từ VAMC về các doanh nghiệp làm ăn thất bát đang là con nợ của ngân hàng bằng cách hoán đổi nợ xấu thành cổ phần của doanh nghiệp.
Thế nhưng, khi ngân hàng thương mại đã không còn vốn điều lệ để hoạt động thì nó lấy tiền ở đâu để mua lại nợ xấu, sau đó tiếp tục hoán đổi thành cổ phần tại các doanh nghiệp? Chẳng lẽ Ngân hàng Nhà nước đang hướng dẫn ngân hàng thương mại tiếp tục lấy tiền huy động của người dân để hoán đổi thành cổ phần các doanh nghiệp làm ăn thất bát, nghĩa là đặt tiền tích lũy của người dân vào một cuộc chơi rủi ro khác? Điều này Ngân hàng Nhà nước nhất thiết phải làm rõ.
Câu hỏi 2: Hoán đổi nợ xấu thành cổ phần doanh nghiệp với giá nào?
So với thế giới, nợ xấu của Việt Nam có đặc điểm là đa số được bảo đảm bằng tài sản thế chấp. Khi mua nợ xấu của các ngân hàng thương mại, do không thể thống nhất trong việc định giá tài sản thế chấp, VAMC mua nợ xấu với giá trị trên sổ sách. Trong khi đó, rất nhiều trường hợp, tài sản thế chấp được định giá vượt mức giá trị thật nên ngân hàng thương mại cho vay không phải 50% giá trị tài sản thế chấp mà lên tới 100%, thậm chí 200%.
Vậy khi ngân hàng thương mại dùng số nợ xấu đó để mua cổ phần, ngân hàng thương mại định giá giá trị số nợ xấu ấy và tài sản thế chấp đó như thế nào?
Nếu xét từ quyền lợi người gửi tiền (vì quyết định sai lầm của ngân hàng thương mại, hoặc cố ý vi phạm các quy định của luật pháp, mà số tiền gửi đó biến thành nợ xấu), ngân hàng thương mại phải định giá theo giá trị sổ sách để thu hồi đủ tiền trả lại các chủ tài khoản. Nếu xét từ quyền lợi của đối tác (doanh nghiệp bán cổ phần để đổi nợ xấu), số nợ xấu phải được định giá theo đúng giá thị trường.
Trong khi đó, bản thân quy định nợ xấu nhóm 5 của Ngân hàng Nhà nước đã chứng minh, giá trị thị trường của nó bằng 0. Người ta không thể phù phép một thứ không giá trị để trao đổi với bất cứ loại cổ phần nào.
Từ phía ngân hàng thương mại, hoán đổi nợ xấu thành cổ phần doanh nghiệp, nghĩa là, ngân hàng thương mại buộc phải chọn đầu tư vào những doanh nghiệp không có khả năng trả nợ, phải cầm cố tài sản nơi họ. Vậy họ sẽ chấp nhận mua cổ phần doanh nghiệp với giá bao nhiêu?
Theo Luật Doanh nghiệp, khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, không thể trả nợ ngân hàng thì được liệt vào dạng doanh nghiệp phá sản, cổ phần của các doanh nghiệp này có giá trị chỉ ngang… giấy vụn.
Trong trường hợp khả quan hơn, những doanh nghiệp đã tái cơ cấu, ăn nên làm ra, liệu họ có sẵn sàng đổi cồ phần của họ để lấy những tài sản cầm cố mà chính họ đã từ chối không nhận về hay không? Mặt khác, cổ phần của họ được định giá bao nhiêu khi tính cả số nợ cũ? Có bao nhiêu trường hợp khi đã tính toán đầy đủ, cổ phần của họ vẫn còn có giá trị? Như vậy, chẳng lẽ, nợ xấu giá trị bằng 0, đổi lấy cổ phần bằng 0 hay sao?
Câu hỏi 3: Đổi nợ xấu lấy cổ phần có giải quyết được nợ xấu?
Như đã phân tích ở trên, nếu áp dụng phương thức xử lý nợ xấu bằng cách hoán đổi thành cổ phần của doanh nghiệp, đồng nghĩa, nợ xấu từ VAMC sẽ chuyển trở lại doanh nghiệp với hình thức góp vốn cổ phần. Doanh nghiệp sẽ làm gì để biến số nợ xấu đó thành tài sản thật?
Về phía ngân hàng, họ sẽ thu hồi tài sản qua doanh nghiệp theo cách nào, nếu doanh nghiệp không được tiếp thêm sinh lực, ăn nên làm ra nhờ phần góp vốn của họ? Nếu như vậy, vẫn không có tiền trả lại cho các chủ tài khoản đã gửi ở ngân hàng thương mại, nghĩa là nợ xấu chưa được giải quyết triệt để. Nói cách khác, trong trường hợp này, nợ xấu chỉ chuyển từ nơi này sang nơi khác, chuyển từ hình thức này sang hình thức khác.
Vậy làm thế nào để xử lý dứt điểm nợ xấu của các ngân hàng thương mại? Chúng ta đã bỏ qua cơ hội xóa sạch nợ xấu bằng cách trích lập dự phòng rủi ro với sự hỗ trợ của VAMC, vậy thì chính Ngân hàng Nhà nước phải xắn tay vào trực tiếp giải quyết?
Trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước tái cơ cấu các Ngân Hàng Đại dương, Ngân hàng Xây dựng, bằng phương án mua lại toàn bộ cổ phần với giá bằng 0 đồng và tiếp tục cho các ngân hàng này hoạt động. Nhưng không thấy nói gì đến việc xử lý các nợ xấu của các ngân hàng này. Ngân hàng Nhà nước trở thành chủ sở hữu 100% cổ phần, vậy Ngân hàng Nhà nước có lãnh 100% trách nhiệm trả lại cho các chủ tài khoản số tiền mà ngân hàng đả biến thành nợ xấu? Nếu như vậy Ngân hàng Nhà nước lấy đâu ra tiền để trả lại cho các chủ tài khoản? Tuy không nói ra, nhưng ta có thể ngầm hiểu rằng Ngân hàng Nhà nước sẽ trích lập dự phòng trên các lợi nhuận phát sinh của các ngân hàng này để thanh lý nợ xấu đối với các chủ tài khoản.
Nếu đây là phương án được lựa chọn và nếu Ngân hàng Nhà nước thực hiện tốt việc tái cơ cấu Ngân hàng Đại dương, Ngân hàng Xây dựng, không có lẽ gì, họ không thể tiếp tục áp dụng theo cách đó với các ngân hàng thương mại yếu kém khác.
Chúng ta không biến hệ thống ngân hàng thương mại thành công cụ của ngân hàng Trung ương nhưng vẫn tiếp tục cho nó hoạt động tạm thời dưới sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước. Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước thể hiện vai trò của Ngân hàng Trung ương, tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại yếu kém để nó duy trì hoạt động, cho doanh nghiệp vay với lãi suất hợp lý để doanh nghiệp có thể tồn tại, phát triển và trả nợ. Khi nào các ngân hàng yếu kém hoạt động tốt, và các nợ xấu đả được xử lý, thì Ngân hàng Nhà nước có thể bán lại cho các tổ chức, cá nhân.
Song song với đó, Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ các ngân hàng thương mại đang khó khăn nhưng vẫn có cơ hội phát triển. Nếu họ không huy động được vốn để cho vay với lãi suất hợp lý, Ngân hàng Trung ương có thể cho vay, tái cấp vốn cho các ngân hàng này. Quan trọng là Ngân hàng Nhà nước phải giám sát thật, áp dụng nghiêm túc kỷ luật trong vận hành hoạt động của cả hệ thống ngân hàng thương mại, không để cho các ngân hàng thương mại hoạt động thiếu nghiêm túc, làm phát sinh thêm nợ xấu. Điều kiện thiết yếu là các ngân hàng này phải cam kết thiết lập dự phòng trên các lợi nhuận phát sinh để trả lại cho các chủ tài khoản các số tiền đã biến thành nợ xấu.
Tóm lại, vẫn có giải pháp để xử lý dứt điểm nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại nhưng có làm được hay không lại phụ thuộc vào nhân sự, chính sách, các vấn đề tiêu cực tham nhũng… Nợ xấu đang tồn tại ở hệ thống ngân hàng thương mại như những ung nhọt, có khả năng chuyển biến thành ung thư nên xem ra, chúng ta cũng không còn nhiều lựa chọn.
* Trích dẫn từ bản tin ''Ngân hàng có thể đổi nợ xấu nhất thành vốn góp'' đăng tải trên Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 3/10/2016

Cổ phiếu của nhiều start-up tại Việt Nam được mua với giá từ vài trăm nghìn đến vài triệu đồng

4 triệu đồng cho 1 cổ phiếu Vexere.com, 2 triệu đồng cho 1 cổ phiếu Topica, gần 700 nghìn đồng cho 1 cổ phiếu VNG... Giá cổ phiếu của các start-up gợi nhớ lại một thời kỳ oanh liệt của TTCK Việt Nam giai đoạn sơ khai 10 năm trước.

Trong số hơn 700 doanh nghiệp đang niêm yết trên sàn chứng khoán, chỉ có hơn chục cổ phiếu có thị giá trên 100.000 đồng, chủ yếu là cổ phiếu của các doanh nghiệp tên tuổi đầu ngành như Vinamilk, Dược Hậu Giang, Nhựa Bình Minh, Thiên Long…
Tuy nhiên, trong thế giới của các start-up Việt Nam, mức giá vài trăm nghìn đồng thậm chí lên đến vài triệu đồng – tức gấp tới cả 100 lần mệnh giá lại không phải là chuyện hiếm.
Theo tìm hiểu của CafeF, trong năm 2014, một công ty quản lý quỹ đầu tư trong nước nhận ủy thác của một quỹ nước ngoài đã chi ra tới 2,1 tỷ đồng chỉ để mua 1.112 cổ phiếu của startup Vexere.com, tương ứng giá mua lên đến 1.900.000 đồng/cp.
1,9 triệu đồng/cp cũng là mức giá năm 2014 của CTCP Đầu tư và Phát triển Đào tạo E.D.H – công ty sở hữu 99,9% cổ phần của Tổ hợp công nghệ giáo dục Topica.
Sang năm 2015, khi công ty quản lý trên mua thêm 2.222 cổ phiếu Vexere cho khách hàng của mình, số tiền phải chi ra đã lên đến 8,54 tỷ đồng, tương ứng 3.841.000 đồng/cp – gấp đôi so với năm trước đó.
Việc Vexere.com và E.D.H có mức giá cổ phiếu lên đến hàng triệu đồng một phần vì các doanh nghiệp này có vốn điều lệ khá nhỏ. Hiện Vexere chỉ có vốn điều lệ 133 triệu đồng - tương ứng số cổ phiếu đang lưu hành chỉ có 13.334 cổ phiếu hay vốn điều lệ của E.D.H chỉ có 2,5 tỷ đồng.
Vốn điều lệ “siêu nhỏ”, chỉ từ vài ba tỷ đến chục tỷ đồng cũng là đặc điểm chung của hầu hết các start-up tại Việt Nam. Vốn nhỏ dẫn đến lượng cổ phiếu “cô đặc” chính vì vậy nhiều start-up có triển vọng không quá khó để bán cổ phiếu với giá gấp vài chục lần mệnh giá cho các quỹ đầu tư.
Trong năm 2015, quỹ đầu tư CyberAgent của Nhật Bản đã thoái một phần vốn khỏi start-up Foody với mức giá xấp xỉ 300.000 đồng/cp và mua vào cổ phiếu của CTCP So sánh Việt Nam (Websosanh) với giá 284.000 đồng/cp.
Năm 2016 cũng có một số thương vụ đình đám như SCPE đầu tư vào ví điện tử Momo hay VNG đầu tư vào trang thương mại điện tử Tiki.
Quỹ đầu tư SCPE thuộc ngân hàng Standard Chartered đã chi ra 25 triệu để mua 20% cổ phần của Momo; tương ứng Momo được định giá lên đến 125 triệu USD – trở thành một trong những công ty công nghệ đắt giá nhất Việt Nam. Mức giá mà SCPE trả là gần 360.000 đồng/cp.
CTCP VNG – doanh nghiệp game online lớn nhất Việt Nam đã chi 384 tỷ đồng để mua 38% cổ phần của trang thương mại điện tử Tiki.vn với mức giá 103.442 đồng/cp. Tại mức giá này, vốn hóa của Tiki đạt hơn 1.000 tỷ đồng (45 triệu USD) – tăng gấp 4 lần so với năm 2013.
Bản thân VNG cũng là một trong những công ty công nghệ có giá cao nhất hiện nay. Tháng 3/2015, VNG đã chào bán thành công lượng cổ phiếu có mệnh giá 2,9 tỷ đồng thu về hơn 194 tỷ đồng – tương ứng giá phát hành 666.000 đồng/cp. VNG cũng có kế hoạch mua lại cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ với giá 542.000 đồng/cp. Với các mức giá này, giá trị của VNG dao động trong khoảng từ 15.000-18.000 tỷ đồng.
Khi lên sàn vào cuối năm 2006, cổ phiếu FPT từng có giá hơn 600.000/cp. Tuy nhiên, sau nhiều biến động của thị trường cũng như chia thưởng cổ phiếu, hiện cổ phiếu FPT chỉ còn quanh mức 45.000 đồng.
Hiện vốn hóa của FPT đạt 20.000 tỷ đồng, nhỉnh hơn một chút so với mức 19.700 tỷ đồng của Thế giới Di động. Giá trị của Thế giới Di động đã tăng gần gấp 4 lần so với khi lên sàn cách đây 2 năm.

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016

Số lượng thành viên HĐQT có nên áp dụng tối đa theo luật?

Về số lượng thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT), doanh nghiệp có nên áp dụng tối đa theo luật hay không vì như ở doanh nghiệp của tôi hay xảy ra bất đồng giữa các thành viên HĐQT và có nhiều thành viên nên rất khó khăn để xếp lịch họp?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 150, Luật Doanh nghiệp 2014 - Nhiệm kỳ và số lượng thành viên HĐQT: “HĐQT có từ 3 đến 11 thành viên. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng thành viên HĐQT”.
Theo quy định Khoản 1, Điều 130, Thông tư 121/2012/TT-BTC - Thành viên HĐQT: “Công ty đại chúng quy mô lớn và công ty niêm yết phải có ít nhất là 5 thành viên HĐQT và tối đa 11 thành viên HĐQT”.
Như vậy, số lượng thành viên tối đa của HĐQT công ty cổ phần là 11 thành viên. Căn cứ trên quy định của pháp luật cũng như nhu cầu cụ thể của công ty và cổ đông (quy mô, mức độ phức tạp của các vấn đề cần ra quyết định); chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của HĐQT (quy định trong điều lệ, quy chế quản trị), doanh nghiệp xác định cơ cấu, quy mô số lượng cụ thể thành viên HĐQT để đảm bảo: tổ chức các cuộc thảo luận có hiệu quả và có tính chất xây dựng; đưa ra quyết định kịp thời hợp lý; tổ chức một cách hiệu quả công việc của các ủy ban trực thuộc HĐQT.
Để tránh những bất đồng có thể xảy ra, điều lệ, quy chế quản trị công ty cần quy định cụ thể số lượng, cơ cấu thành phần HĐQT, quyền, nghĩa vụ, cách thức tổ chức và phối hợp hoạt động của các thành viên trong HĐQT.
Ngoài ra, để sắp xếp lịch tổ chức lịch họp HĐQT được hiệu quả, HĐQT nên xây dựng lịch họp thường kỳ; đề ra chương trình nghị sự, gửi tài liệu trước cũng như tạo điều kiện cho các thành viên HĐQT tham dự và biểu quyết tại cuộc họp bằng các hình thức khác như: ủy quyền người khác đến dự họp, tham dự và biểu quyết thông qua hội nghị trực tuyến hoặc các hình thức tương tự khác (gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua thư, fax, thư điện tử).

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

Ứng xử thế nào khi Chủ tịch HĐQT đưa người nhà vào các vị trí chủ chốt

Tại doanh nghiệp mà chúng tôi có vốn đầu tư, ông chủ tịch tập đoàn dự kiến thu xếp vị trí giám đốc tài chính cho em dâu, vợ của phó tổng giám đốc tập đoàn phụ trách tài chính. Xin hỏi, thông lệ quản trị hiện đại về vấn đề này như thế nào? Các cổ đông nên ứng xử như thế nào về vấn đề này để vừa đảm bảo doanh nghiệp thực hiện tốt thông lệ quản trị tiên tiến, vừa không gây mâu thuẫn với vị chủ tịch tập đoàn?
Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Theo thông lệ quản trị công ty tốt, thứ nhất, những quyết định về mặt nhân sự không nên dựa trên quan hệ, tình cảm mà phải dựa trên năng lực, trình độ, phẩm chất, mức độ phù hợp của ứng viên. Thứ hai, cổ đông, Hội đồng quản trị cần xây dựng các quy định, phân cấp phân quyền, cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc; tiêu chuẩn, quy trình - ai là người bầu chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác trong điều lệ, quy chế quản trị...
Với những doanh nghiệp quy mô càng lớn thì tầm quan trọng, mức độ phức tạp của các quyết định về nhân sự cấp cao càng lớn, Hội đồng quản trị cần lập ra một ủy ban nhân sự (bao gồm đa số thành viên Hội đồng quản trị độc lập hoặc do thành viên Hội đồng quản trị độc lập làm chủ tịch ủy ban) có trách nhiệm giới thiệu, đánh giá các ứng viên tiềm năng; cũng như xem xét việc soạn thảo quy trình bổ nhiệm các thành viên Ban giám đốc.
Ở trường hợp này, các cổ đông cần phải xem xét chính sách quy định về nhân sự và bổ nhiệm nhân sự ban giám đốc của doanh nghiệp quy định trong điều lệ, quy chế quản trị… và yêu cầu Hội đồng quản trị xây dựng các tiêu chuẩn, đánh giá cụ thể cũng như quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh quản lý quan trọng (trong đó, có chức danh giám đốc tài chính) trong điều lệ, quy chế quản trị… và công bố công khai, qua đó cổ đông có thể giám sát, đảm bảo tính hiệu quả, minh bạch, thu hút được người tài tham gia lãnh đạo, điều hành doanh nghiệp.