Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

Ngân hàng bán lẻ hãy “dè chừng” với mô hình kinh doanh này!

Tâm lý tiêu cực của khách hàng khi phải trải qua quá trình xét duyệt phức tạp và yêu cầu khắt khe của Ngân hàng thương mại là tiền đề giúp mô hình này sẽ trở nên là đối thủ rất “nặng ký” với các ngân hàng bán lẻ truyền thống.
Thế giới bùng nổ cho vay ngang hàng
Sàn giao dịch cho vay ngang hàng (Peer to Peer – P2P) là cơ chế cho vay trực tiếp và tín chấp, giúp người đi vay uy tín mượn tiền từ nhà đầu tư mà không cần qua trung gian. Đây là phương thức kết nối người có vốn và người cần vốn thông qua nền tảng trực tuyến mới cùng với hệ thống công nghệ tiên tiến. Các khoản vay thường là nhỏ (từ 5 triệu đến 300 triệu đồng) từ nhiều nhà cho vay khác nhau, với thời hạn trung bình từ 1 tháng đến 2 năm và mức lãi suất từ 10% đến 25%/năm tuỳ vào từng loại khách hàng.
Mô hình cho vay ngang hàng lần đầu tiên xuất hiện ở Anh, bùng nổ mạnh mẽ tại thị trường Mỹ và phát triển đạt đỉnh tại Trung Quốc.
Tháng 3/2005, Zopa là 1 sàn giao dịch P2P, được sáng lập tại Anh và được coi là website cho vay P2P đầu tiên trên thế giới, chuyên dành cho các cá nhân và đơn vị kinh doanh nhỏ lẻ. Đến 2006 và 2007, hai nhà cung cấp sàn giao dịch P2P khác tại Mỹ là Prosper và Lending Club ra đời, chiếm lĩnh thị phần khổng lồ tại thị trường cho vay ngang hàng tại Mỹ (khoảng 10 tỷ USD).
Tại Châu Á, Trung Quốc được biết đến là quốc gia đầu tiên phát triển mô hình cho vay mới mẻ này, ngay từ năm 2007. Tuy nhiên phải đến 2012, thị trường P2P Trung Quốc mới thực sự phát triển vượt bậc trong mọi khía cạnh, từ số lượng nhà đầu tư, đến nền tảng cho vay và lợi nhuận kinh doanh và đạt khoảng 17 tỷ USD về doanh số giao dịch. Tuy nhiên, Ủy ban Điều tiết Ngân hàng Trung Quốc cho biết đến cuối năm 2015 đã có hơn 400 tỷ nhân dân tệ đầu tư từ hơn 3.600 công ty giao dịch ngang hàng P2P và hơn 1.000 công ty trong số này là có vấn đề.
Còn tại Việt Nam thì sao?
Tâm lý tiêu cực của khách hàng khi phải trải qua quá trình xét duyệt phức tạp và yêu cầu khắt khe của Ngân hàng thương mại (NHTM) cũng như các Tổ chức tín dụng (TCTD) khác là tiền đề giúp mô hình này sẽ trở nên là đối thủ rất “nặng ký” với các ngân hàng bán lẻ truyền thống tại Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, trong thời gian qua tại Việt Nam, hình thức cho vay không thông qua ngân hàng cũng đã phổ biến tại Việt Nam nhưng không thông qua sàn giao dịch trực tuyến, ví dụ như tín dụng “đen”, cầm đồ hay các doanh nghiệp cho nhân viên tạm ứng/vay tiền.
Theo số liệu từ Ngân hàng thế giới (WB), tại Việt Nam, cứ trong 3 người thì chỉ có ít hơn 1 người tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng và có xấp xỉ 53 triệu người lao động gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các khoản vay tiêu dùng cá nhân hoặc phục vụ vốn kinh doanh nhỏ. Đây cũng chính là cơ hội của cho vay tiêu dùng thông qua hình thức trực tuyến của P2P.
Hiện nay ở Việt Nam, các hình thức cung cấp sản phẩm tài chính đã bắt đầu phát triển trên các kênh phi truyền thống, tuy nhiên số lượng vẫn còn rất khiêm tốn. Điển hình như, sản phẩm cho vay mua hàng trả góp lãi suất 0% của Công ty MobiVi (là một loại hình của công ty kinh doanh dịch vụ tài chính dựa trên nền tảng công nghệ – Fintech) đang được hưởng ứng mạnh mẽ trong cộng đồng công nhân ở các doanh nghiệp phía Nam và thu hút lượng vốn lớn từ 4 quỹ đầu tư nước ngoài (bao gồm: Công ty Experian Châu Á Thái Bình Dương, Quỹ Kusto Tiger tại Việt Nam, Công ty Unitus Impact của Mỹ và Ngân hàng Sumitomo Mitsui Banking Corporation của Nhật Bản).
Sản phẩm cho vay ngang hàng trực tuyến của một Fintech khác là Loanvi (LoanVi là sản phẩm thuộc Công ty Cổ phần Finsom) được thành lập năm 2015 và đang trong quá trình thử nghiệm với các khách mời cũng như sẽ sớm triển khai rộng rãi trên thị trường. Một công ty khác có tên là Wingoinvest cũng đang trong giai đoạn thử nghiệm. Sản phẩm cho vay tín chấp trực tuyến này hiện chưa có công ty Fintech Việt Nam nào tham gia nhưng cũng đã hoạt động bán trực tuyến tại các Công ty tài chính.
Theo thống kê của Viện Chiến lược Ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước (NHNN), cuối năm 2010, cho vay tiêu dùng chỉ chiếm khoảng 2,3% tổng dư nợ tương đương 16.000 tỷ đồng. Nhưng đến cuối 2015, con số này đã tăng lên 6,8% tương đương 90.000 tỷ đồng, trong đó chủ yếu là cho vay tiêu dùng theo phương thức truyền thống (không trực tuyến) thông qua các công ty tài chính, các TCTD. Còn doanh số cho vay trực tuyến và tín chấp thông qua hình thức P2P thì không đáng kể và chỉ mới ở giai đoạn thử nghiệm.
Quy trình giao dịch của sàn cho vay ngang hàng
Quy trình cho vay này thường thông qua 4 bước phổ biến. Đầu tiên khách vay chọn khoản vay và kỳ hạn vay mong muốn, sau đó điền thông tin vào đơn đăng ký trên website đã được thiết kế theo mẫu có sẵn. Sau khi tiếp nhận đơn đăng ký vay, nhân viên công ty sẽ liên hệ với khách hàng vay để và hoàn tất hợp đồng vay. Tiếp theo là hai bên thực hiện việc ký kết hợp đồng và nhận thông tin xét duyệt. Cuối cùng, khách hàng vay nhận tiền vay qua tài khoản hoặc tại các điểm giao dịch đối tác của công ty Fintech.
Tương lai nào cho sàn P2P tại Việt Nam trong thời gian tới?
Hình thức cho vay ngang hàng hiện nay có rất nhiều tiện ích vượt trội và điều đó sẽ giúp cho mô hình này sẽ ngày càng phát triển hơn tại Việt Nam trong thời gian tới, điển hình như:
Giúp cho các đối tượng là cá nhân và doanh nghiệp nhỏ, không đủ điều kiện tiếp cận với ngân hàng, sẽ tiếp cận được với nguồn vốn vay thông qua P2P. Nhà đầu tư sẽ có được lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi vào ngân hàng (mức lãi suất đầu tư trung bình của sàn P2P là 16%/năm, trong khi mức lãi suất tiền gửi cao nhất vào ngân hàng hiện nay cũng chỉ khoảng 8,2%/năm) và người vay cũng có lãi suất vay thấp hơn lãi suất vay của các công ty tài chính (mức lãi suất vay trung bình của sàn P2P là từ 10% đến 25%/năm, trong khi lãi suất vay của công ty tài chính có khi lên trên 60%/năm).
Việc thẩm định hồ sơ vay của các công ty Fintech này luôn được thực hiện thông qua hệ thống thông tin lớn và quy trình kiểm soát nghiêm ngặt nên sẽ đảm bảo được số tiền của nhà đầu tư cũng như trong trường hợp có rủi ro thì các sàn P2P sẽ bồi thường tiền cho chủ đầu tư và điều này được quy định chặt chẽ trên hợp đồng. Sàn P2P cũng hạn chế đến mức thấp nhất sự chênh lệch kỳ hạn giữa huy động và cho vay vốn, vốn là đặc trưng của ngân hàng truyền thống, do phần lớn các khoản cho vay tối đa là 2 năm.
Mô hình cho vay này cũng đầy rủi ro
Hoạt động của sàn giao dịch cho vay ngang hàng trên thế giới vẫn chưa cho thấy có những rủi ro lớn nào xảy ra. Tuy nhiên, nhìn vào cách hoạt động và quy trình quản trị của mô hình này vẫn có thể có một số rủi ro tiềm tàng xảy ra nếu các cơ quan chức năng không kiểm soát tốt và những người điều hành doanh nghiệp này không tuân thủ nghiêm ngặt quy trình quản trị doanh nghiệp.
Rủi ro đầu tiên là trong trường hợp sàn giao dịch sau khi huy động tiền từ nhà đầu tư mà không tiến hành cho vay, thậm chí đem số tiền đó sử dụng vào mục đích khác rồi thua lỗ và dẫn đến việc sàn giao dịch sụp đổ, tương tự như việc phá sản của nhiều sàn giao dịch bitcoin của một số nước trên thế giới, qua đó xóa sạch niềm tin của các nhà đầu tư vào lĩnh vực còn non trẻ này. Do đó, các cơ quan chức năng cần có quy định yêu cầu các doanh nghiệp P2P “phong tỏa” nguồn vốn chưa được giải ngân từ những người gửi tiền tiết kiệm/đầu tư và sắp xếp cho bên thứ ba quản lý dư nợ cho vay nếu họ ngừng giao dịch, hoặc có thể tiến hành cho mua bảo hiểm các khoản tiền gửi của chủ đầu tư.
Một rủi ro khác là hoạt động này chưa được pháp luật Việt Nam quy định một cách rõ ràng trong các văn bản pháp luật hiện hành. Do đó, khi có rủi ro xảy ra từ phía khách hàng hay chủ sàn P2P, thì các bên rất khó giải quyết với nhau cũng như cơ quan chức năng cũng thiếu cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp.
Ngoài ra, các nội dung cam kết trên các trang web của các sàn đang giao dịch P2P thử nghiệm hiện nay tại Việt Nam cũng chưa thật sự chi tiết và quyền lợi của khách hàng cũng chưa được đề cập khi các tranh chấp xảy ra.
Tóm lại, bên cạnh các lợi ích vượt trội của mô hình cho vay P2P này so với các NHTM truyền thống như: thời gian xét duyệt cho vay nhanh, số tiền cho vay nhỏ, giao dịch trực tuyến… và so với các công ty tài chính như: lãi suất cho vay rẻ hơn nhiều, được các nhà đầu tư lớn tin tưởng và rót vốn…, hoạt động này cũng mang lại nhiều rủi cho khách hàng. Do đó, trong thời gian tới, Nhà nước cần sớm ban hành các quy định pháp luật nhằm điều chỉnh hiệu quả hoạt động giao dịch thông qua sàn P2P này nhằm từ đó giúp cho khách hàng có thêm các kênh để lựa chọn vay khi cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh.

Bài học về kiểm soát quản trị từ câu chuyện tại PVC


Cuối năm 2007, Tổng CTCP Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) bắt đầu hoạt động theo mô hình công ty mẹ-con. Quy mô của PVC đã tăng đột biến khi được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) góp vốn bằng tiền mặt và cổ phần của Tập đoàn tại các công ty thành viên để tăng vốn lên 1.500 tỷ đồng nhằm đưa PVC thành đơn vị đảm nhiệm toàn bộ công việc thi công xây lắp các công trình dầu khí trên bờ.

Đáng lưu ý là ở thời điểm đó, thị trường đã từng ồn ào với việc Thủ tướng Chính phủ có chỉ thị các doanh nghiệp nhà nước hạn chế đầu tư ngoài ngành nhưng PVN vẫn rót 1.000 tỷ đồng vào PVC cho đợt tăng vốn với lý do: PVC không phải là đầu tư ngoài ngành mà đầu tư cho dịch vụ xây lắp dầu khí và đây là một trong những lĩnh vực cốt lõi trong đề án tái cơ cấu của PVN.

Thực tế sau đó, PVC đã được đảm nhiệm nhiều dự án có quy mô hàng nghìn đến hàng chục nghìn tỷ đồng như: Dự án Nhiệt điện Thái Bình 2, Nhiệt điện Vũng Áng, Ethanol Phú Thọ, Lọc dầu Nghi Sơn… Trong vài năm sau đó, PVC nhanh chóng trở thành một trong những tổng công ty mạnh của PVN. Việc có quá nhiều tiền, quá nhiều dự án đã khiến Ban lãnh đạo PVC vung tay quá trán, rót vốn vào các công ty tài chính và lĩnh vực bất động sản. Trong những năm 2010-2011, PVC phát triển nóng với quy mô gần 100 các công ty con, cháu, với số vốn 4.000 tỷ đồng, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản.

Từ giữa năm 2010, thị trường bất động sản xuất hiệu dấu hiệu giảm sút vì cung lớn hơn rất nhiều so với cầu, như dư luận xã hội đánh giá: cung thật nhưng cầu lại ảo. Vì PVC đầu tư rất lớn và ồ ạt vào lĩnh vực bất động sản, vốn không phải là ngành nghề chính chuyên xây lắp các dự án dầu khí, nên PVC đã lỗ rất lớn. Cụ thể: năm 2011, PVC lỗ hơn 19 tỷ đồng; năm 2012 lỗ lũy kế gần 1.400 tỷ đồng; lũy kế đến cuối năm 2013, PVC lỗ hơn 3.200 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu của Tổng công ty từ 4.000 tỷ giảm xuống còn hơn 134,7 tỷ đồng, nợ ngắn hạn vay ngân hàng phải trả lãi là 2.972 tỷ đồng, 1.866 tỷ đồng nợ dài hạn.

Đáng chú ý, hoạt động của PVC đã bộc lộ nhiều lỗ hổng quản trị lớn. Bên cạnh sa đà vào các lĩnh vực đầu tư ngoài ngành cốt lõi, PVC còn kinh doanh chủ yếu bằng cách nhận dự án của PVN rồi ký hợp đồng với các nhà thầu là công ty con, công ty thành viên để hưởng chênh lệch. Ví dụ, trong hợp đồng xây dựng Nhà máy ethanol nhiên liệu sinh học phía Bắc với giá trị 50 triệu USD, PVC giao lại cho CTCP Xây lắp Dầu khí Hà Nội (PVC Hà Nội) gói thầu giá trị 43 triệu USD. PVC còn mạo hiểm bảo lãnh tín dụng cho các công ty con. Tính đến cuối năm 2012, giá trị các khoản vay do PVC bảo lãnh cho các công ty con, công ty liên kết quá hạn lên tới 643 tỷ đồng.

Những thất bại của PVC còn đến từ việc Tổng công ty phải chịu gánh nặng từ việc tiếp nhận các khoản đầu tư ngoài ngành của PVN. Trong một cuộc họp báo, ông Phùng Đình Thực, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên PVN đã chia sẻ rằng, PVC lỗ lớn, trong đó có nguyên nhân là phải dành tỷ trọng nguồn lực tài chính lớn để trích lập dự phòng cho các công ty con, công ty liên kết. Trước đây, PVN kinh doanh đa ngành và cho ra đời nhiều công ty bất động sản. Năm 2009, Tập đoàn có chủ trương chuyển giao về PVC, thời điểm chuyển giao chủ yếu thực hiện theo giá trị 1:1 (chuyển về PVC với giá cổ phiếu bằng mệnh giá – PV), với hy vọng tình hình kinh tế sẽ tốt lên, các công ty chuyển giao về PVC sẽ hoạt động tốt. Khi chuyển giao các khoản đầu tư bất động sản về PVC, PVN cũng đã trích 1.000 tỷ đồng cho PVC vay để thực hiện các dự án.

Doanh thu mảng xây lắp dầu khí của PVC từng đạt gần 20.000 tỷ đồng/năm vào thời điểm giá dầu đạt mức cao nhất, nhưng PVC lại để vuột mất cơ hội củng cố nhân sự, đầu tư công nghệ, máy móc hiện đại nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh. Đây chính là bài học đắt giá về quản lý vốn, tài sản nhà nước và kiểm soát quản trị trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước chi phối.

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2016

Các tiểu ban như kiểm toán, nhân sự... nên trực thuộc Hội đồng Quản trị hay Ban điều hành?

Doanh nghiệp tôi đang có kế hoạch thành lập các tiểu ban như kiểm toán, nhân sự... xin hỏi tiểu ban nên trực thuộc Hội đồng Quản trị (HĐQT) hay Ban điều hành, vì trong công việc hàng ngày, tiểu ban này làm việc với Ban điều hành nhiều hơn?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Khi hỏi câu hỏi này, trước hết Doanh nghiệp cần xem xét lại chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của HĐQT và ban điều hành được quy định trong điều lệ; quy chế quản trị của công ty cho rõ ràng; đảm bảo không nhầm lẫn, chồng chéo trong phân công công việc giữa HĐQT và ban điều hành.
HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại Hội Đồng Cổ Đông (Điều 149 Luật Doanh Nghiệp 2014).
Giám Đốc hoặc Tổng Giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty; chịu sự giám sát của HĐQT; chịu trách nhiệm trước HĐQT và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao (Điều 157 Luật Doanh Nghiệp 2014).
Khi quy mô, mức độ phức tạp và tầm quan trọng của các vấn đề cần HĐQT ra quyết định ngày càng lớn thì HĐQT cần phải thành lập các tiểu ban để xử lý hiệu quả- chuyên trách từng lĩnh vực, giám sát kiểm soát hiệu quả hoạt động của ban điều hành cũng như tăng cường tính khách quan và độc lập trong các phán quyết của mình đặc biệt trong các lĩnh vực như lương thưởng, đề cử thành viên HĐQT. Do đó khi thành lập tiểu ban thì nghĩa là tiểu ban trực thuộc HĐQT.
Mặc dù không bắt buộc nhưng Thông tư 121/2012/TT-BTC- Quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng cũng khuyến khích các doanh nghiệp thành lập các tiểu ban để hỗ trợ hoạt động của Hội đồng quản trị, bao gồm tiểu ban chính sách phát triển, tiểu ban nhân sự, tiểu ban lương thưởng và các tiểu ban đặc biệt khác theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông (Điều 32 Thông tư 121/2012/TT-BTC).

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2016

Doanh nghiệp giải trình sơ sài do luật không có quy định?

Tôi thấy nhiều công ty giải trình nguyên nhân biến động kết quả kinh doanh rất sơ sài. Chẳng hạn, lợi nhuận quý này giảm so với cùng kỳ năm trước là do doanh thu giảm, chi phí tăng. Nhìn báo cáo kết quả kinh doanh, ai mà chẳng thấy như vậy. Cái nhà đầu tư cần là tại sao doanh thu giảm, tại sao chi phí tăng? Phải chăng, giải trình sơ sài như trên là do pháp luật không có quy định cụ thể, hay công ty không muốn chia sẻ lý do?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Theo quy định tại Khoản 4, Điều 11, Thông tư 155/2015/TT-BTC, khi công ty đại chúng quy mô lớn, tổ chức niêm yết công bố báo cáo tài chính quý, bán niên soát xét, năm kiểm toán theo thời hạn tại khoản 1, 2, 3 Điều này phải đồng thời giải trình nguyên nhân khi xảy ra một trong các trường hợp sau:
a) Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp tại báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của kỳ công bố thay đổi từ 10% trở lên so với báo cáo cùng kỳ năm trước;
b) Lợi nhuận sau thuế trong kỳ báo cáo bị lỗ; hoặc chuyển từ lãi ở kỳ trước sang lỗ ở kỳ này hoặc ngược lại;
c) Số liệu, kết quả hoạt động kinh doanh lũy kế từ đầu năm tại báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong báo cáo tài chính quý II đã công bố so với báo cáo tài chính bán niên được soát xét; hoặc tại báo cáo tài chính quý IV đã công bố so với báo cáo tài chính năm được kiểm toán có sự chênh lệch từ 5% trở lên; hoặc chuyển từ lỗ sang lãi hoặc ngược lại;
d) Số liệu, kết quả hoạt động kinh doanh tại báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ báo cáo có sự chênh lệch trước và sau kiểm toán hoặc soát xét từ 5% trở lên.
Như vậy, công ty đại chúng quy mô lớn và tổ chức niêm yết phải giải trình nguyên nhân gây ra một trong các biến động nêu trên. Luật không quy định cụ thể các công ty phải giải trình thế nào, tuy nhiên qua giải trình, cổ đông cũng có thể đánh giá được phần nào chất lượng công bố thông tin, quản trị công ty của doanh nghiệp.
Ngoài ra, nhà đầu tư, cổ đông để đảm bảo quyền lợi của mình có thể liên hệ trực tiếp tới công ty (cán bộ phụ trách công bố thông tin, người đại diện theo pháp luật, hội đồng quản trị) yêu cầu giải trình chi tiết hơn, hoặc tham khảo thêm báo cáo phân tích doanh nghiệp của các công ty chứng khoán, các nguồn khác (nếu có) để nắm rõ hơn tình hình của doanh nghiệp, từ đó cân nhắc quyết định đầu tư của mình vào doanh nghiệp cho phù hợp.

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2016

Người có thẩm quyền ký kết hợp đồng được quy định như thế nào?

Người có thẩm quyền ký kết hợp đồng được quy định như thế nào? Có phải chỉ đại diện theo pháp luật mới được ký? Trường hợp doanh nghiệp (DN) có nhiều đại diện theo pháp luật thì xử lý ra sao? Cổ đông nên có ý kiến về việc này như thế nào để đảm bảo quyền lợi của mình và DN?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Theo Khoản 3, Điều 86 Bộ luật Dân sự 2005 - Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân: Người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền nhân danh pháp nhân trong quan hệ dân sự.
Theo Điều 91 Bộ luật Dân sự 2005 - Đại diện của pháp nhân: Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định trong Điều lệ công ty hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân.
Như vậy, người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền được phép nhân danh công ty ký kết hợp đồng. Tuy nhiên, về thẩm quyền ký kết hợp đồng thì thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp, điều lệ, quy chế quản trị hoặc văn bản ủy quyền hợp pháp của công ty.
Đối với công ty cổ phần, có những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông (ĐHCĐ), Hội đồng quản trị (HĐQT), những đối tượng này phải thông qua thì người đại diện theo pháp luật mới đủ thẩm quyền ký kết hợp đồng. Ví dụ, trong quyết định đầu tư, bán tài sản hoặc hợp đồng mua, bán, vay, cho vay… có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc một giá trị khác (Điểm d, Khoản 2, Điều 135 và Điểm h, Khoản 2, Điều 149 Luật Doanh nghiệp 2014) hoặc những hợp đồng ký kết với các đối tượng được quy định tại Khoản 1, Điều 162 Luật Doanh nghiệp 2014…
Trường hợp DN có nhiều người đại diện theo pháp luật thì những người đó được phép nhân danh công ty ký kết hợp đồng. Do đó, Điều lệ công ty cần quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý, quyền và nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật của DN theo Khoản 2, Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 - Người đại diện theo pháp luật của DN.
Để đảm bảo quyền lợi cho cổ đông và DN, công ty (ĐHCĐ, HĐQT) cần xây dựng và công bố thông tin về điều lệ, quy chế quản trị, trong đó lưu ý đến việc phân cấp, phân quyền cụ thể: thẩm quyền của ĐHCĐ, HĐQT-Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc, cũng như ai là người đại đại diện theo pháp luật của công ty, từ đó tránh việc lạm dụng quyền lực hoặc ký kết hợp đồng, giao dịch không đúng thẩm quyền, dẫn đến tranh chấp, ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh, hoạt động sản xuất-kinh doanh của công ty.

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

Tiêu chí cho chức danh thành viên HĐQT độc lập?

Doanh nghiệp vừa niêm yết có buộc phải xin ý kiến cổ đông về việc Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc? HĐQT có buộc phải có thành viên độc lập không? Tiêu chí cho chức danh này như thế nào?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
1. Theo quy định tại khoản 1, Điều 152, Luật Doanh nghiệp 2014, chủ tịch HĐQT có thể kiêm nhiệm vị trí giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty trừ trường hợp công ty cổ phần do nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số phiếu biểu quyết và điều lệ công ty, pháp luật về chứng khoán không có quy định khác.
Theo quy định tại khoản 3, Điều 10, Thông tư 121/2012/TT-BTC (quy định về quản trị công ty áp dụng cho công ty đại chúng): “Chủ tịch HĐQT không được kiêm nhiệm chức danh giám đốc (tổng giám đốc) điều hành trừ khi việc kiêm nhiệm này được phê chuẩn hàng năm tại đại hội đồng cổ đông thường niên”.
Như vậy, trong trường hợp này, doanh nghiệp vừa niêm yết (không phải công ty cổ phần do nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số phiếu biểu quyết) muốn duy trì việc kiêm nhiệm này thì hàng năm nên đưa nội dung này ra phê chuẩn lại tại phiên họp đại hội đồng cổ đông thường niên, để đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
2. Theo quy định tại khoản 1, Điều 134, Luật doanh nghiệp 2014, công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình có ban kiểm soát hoặc không có ban kiểm soát, trong trường hợp công ty lựa chọn mô hình quản lý không có ban kiểm soát thì ít nhất 20% số thành viên HĐQT phải là thành viên độc lập.
Luật Doanh nghiệp 2014 không quy định rõ trong trường hợp nếu công ty lựa chọn mô hình có ban kiểm soát thì HĐQT có bắt buộc phải có thành viên độc lập hay không. Tuy nhiên, theo quy định áp dụng cho các công ty đại chúng quy mô lớn và niêm yết tại Điều 30, Thông tư 121/2012/TT-BTC, cơ cấu thành viên HĐQT cần đảm bảo sự cân đối giữa các thành viên nắm giữ các chức danh điều hành với các thành viên độc lập, trong đó tối thiểu một phần ba (1/3) tổng số thành viên HĐQT là thành viên độc lập.
Như vậy, theo các quy định của pháp luật hiện hành, với các công ty cổ phần chưa đại chúng và công ty cổ phần đại chúng thì tuân thủ theo Luật Doanh nghiệp 2014. Còn với các công ty cổ phần đại chúng quy mô lớn và niêm yết thì phải tuân thủ theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 và Thông tư 121/2012/TT-BTC. Về tiêu chuẩn điều kiện của thành viên HĐQT độc lập áp dụng theo quy định tại khoản 2, Điều 151, Luật Doanh nghiệp 2014 và quy định tại khoản 3, Điều 2, Thông tư 121/2012/TT-BTC.

Có khi nào ĐHCĐ không bầu được HĐQT mới?

Công ty cổ phần đến kỳ bầu lại HĐQT mới song do bất đồng quan điểm và mâu thuẫn giữa các nhóm cổ đông, liệu có xảy ra trường hợp ĐHCĐ không bầu được HĐQT mới? Trong trường hợp như vậy, HĐQT cũ có còn đảm nhận tiếp chức trách này hay không? Khi nào thì HĐQT này hết chức trách?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp như: do mâu thuẫn nội bộ trong công ty và mâu thuẫn lợi ích giữa các nhóm cổ đông, không có ai thực hiện triệu tập ĐHCĐ; không đủ tỷ lệ để tiến hành cuộc họp ĐHCĐ ngay trong triệu tập họp đầu tiên; cuộc họp ĐHCĐ bị tạm hoãn, tạm dừng theo quy định tại Điều 142, Luật Doanh nghiệp 2014; Nghị quyết ĐHCĐ bị tuyên hủy theo quy định tại Điều 147, Luật Doanh nghiệp 2014…
Đến kỳ bầu lại HĐQT mới nhưng khi xảy ra một trong trường hợp trên, mặc dù HĐQT đã hết nhiệm kỳ nhưng công ty chưa bầu ra được HĐQT mới để tiếp quản công việc. Theo quy định tại khoản 3, Điều 150, Luật Doanh nghiệp 2014: “Trường hợp tất cả thành viên HĐQT cùng kết thúc nhiệm kỳ thì các thành viên đó tiếp tục là thành viên HĐQT cho đến khi có thành viên mới được bầu thay thế và tiếp quản công việc, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác”. Như vậy, HĐQT cũ (đã hết nhiệm kỳ) sẽ phải tiến hành triệu tập họp ĐHCĐ để bầu ra HĐQT mới.
Trường hợp HĐQT không triệu tập họp ĐHCĐ thì ban kiểm soát thay thế HĐQT triệu tập họp; trường hợp ban kiểm soát không tiến hành triệu tập họp ĐHCĐ thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông theo quy định tại khoản 2, Điều 114, Luật Doanh nghiệp 2014 (cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty) có quyền đại diện công ty triệu tập họp (theo quy định về thẩm quyền triệu tập họp ĐHCĐ tại Điều 136, Luật Doanh nghiệp 2014).
Luật Doanh nghiệp không thể quy định chi tiết những tình huống phát sinh trên thực tế, vì vậy, công ty nên đưa ra những quy định cụ thể trách nhiệm của HĐQT trong Điều lệ công ty hoặc quy chế quản trị công ty để có cách xử lý khi những tình huống như trên xảy ra.