Thứ Ba, 27 tháng 12, 2016

Thời gian HĐQT nhiệm kỳ mới phải họp buổi đầu tiên?

Sau khi Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban kiểm soát (BKS) nhiệm kỳ mới được bầu tại Đại hội đồng cổ đông, thì sau bao lâu phải họp buổi họp đầu tiên? Khi nào bầu Chủ tịch HĐQT và Trưởng Ban kiểm soát?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Theo quy định tại khoản 1, Điều 153 Luật doanh nghiệp 2014- Cuộc họp Hội đồng quản trị: “Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ được bầu trong cuộc họp đầu tiên của nhiệm kỳ Hội đồng quản trị trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc bầu cử Hội đồng quản trị nhiệm kỳ đó.
Cuộc họp này do thành viên có số phiếu bầu cao nhất hoặc tỷ lệ phiếu bầu cao nhất triệu tập và chủ trì. Trường hợp có nhiều hơn một thành viên có số phiếu bầu hoặc tỷ lệ phiếu bầu cao nhất và ngang nhau thì các thành viên bầu theo nguyên tắc đa số để chọn 01 người trong số họ triệu tập họp Hội đồng quản trị”.
Như vậy, Chủ tịch HĐQT sẽ do các thành viên HĐQT bầu trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc bầu cử HĐQT nhiệm kỳ đó (tính từ ngày có hiệu lực của Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thông qua danh sách thành viên HĐQT nhiệm kỳ mới).
Luật doanh nghiệp không có quy định về việc Trưởng ban kiểm soát phải được bầu trong thời hạn bao lâu kể từ ngày kết thúc bầu cử Ban kiểm soát nhiệm kỳ mới, tuy nhiên, Điều lệ công ty nên quy định thời hạn bầu Trưởng ban kiểm soát cùng với thời hạn bầu Chủ tịch HĐQT, để Ban kiểm soát có thể nhanh chóng ổn định cơ cấu tổ chức, thực hiện nhiệm vụ giám sát khi HĐQT nhiệm kỳ mới đã đi vào hoạt động.

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2016

Phương thức ghi nhận biên bản cuộc họp hội đồng quản trị trực tuyến

Tôi tham gia Hội đồng quản trị của một doanh nghiệp, Hội đồng gồm có 5 thành viên. Do đồng thời làm Tổng giám đốc ở một công ty khác nên tôi rất bận rộn và thường xuyên ủy quyền cho người khác tham dự cuộc họp Hội đồng quản trị. Vậy chúng tôi có thể tổ chức họp trực tuyến để các thành viên có thể đưa ra ý kiến trực tiếp hay không và phương thức ghi nhận biên bản cuộc họp được thực hiện như thế nào?
Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Theo quy định tại khoản 9, Điều 153, Luật Doanh nghiệp 2014 - Cuộc họp hội đồng quản trị: “Thành viên hội đồng quản trị được coi là tham dự và biểu quyết tại cuộc họp trong trường hợp sau đây:
a) Tham dự và biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp;
b) Ủy quyền cho người khác đến dự họp theo quy định tại khoản 10 Điều này.
c) Tham dự và biểu quyết thông qua hội nghị trực tuyến hoặc hình thức tương tự khác;
d) Gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua thư, fax, thư điện tử.”
Như vậy, hội đồng quản trị có thể thực hiện phương thức họp trực tuyến để các thành viên có thể đưa ra những ý kiến và biểu quyết các vấn đề tại cuộc họp. Luật Doanh nghiệp cũng khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin để giảm thiểu chi phí tối đa cho doanh nghiệp và tăng tỷ lệ thành công khi tổ chức họp hội đồng quản trị hay họp đại hội đồng cổ đông.
Về biên bản cuộc họp hội đồng quản trị, theo quy định tại Điều 154, Luật Doanh nghiệp 2014 - Biên bản họp hội đồng quản trị, phải lập bằng tiếng Việt, bao gồm các nội dung chủ yếu: tên, địa chỉ trụ sở chính, mã số doanh nghiệp; mục đích, chương trình và nội dung họp; thời gian, địa điểm họp; họ, tên từng thành viên dự họp hoặc người được ủy quyền dự họp và cách thức dự họp; họ, tên các thành viên không dự họp và lý do; các vấn đề được thảo luận và biểu quyết tại cuộc họp; tóm tắt phát biểu ý kiến của từng thành viên dự họp theo trình tự diễn biến của cuộc họp; kết quả biểu quyết trong đó ghi rõ những thành viên tán thành, không tán thành và không có ý kiến; các vấn đề đã được thông qua; họ, tên, chữ ký chủ tọa và người ghi biên bản.
Chủ tọa và người ghi biên bản phải chịu trách nhiệm về tính trung thực và chính xác của nội dung biên bản họp hội đồng quản trị. Trong trường hợp tổ chức họp trực tuyến, công ty có thể áp dụng thêm hình thức ghi âm hay ghi hình để khẳng định những nội dung tại cuộc họp được ghi nhận trong biên bản cuộc họp là chính xác, trung thực.

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2016

Doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn điều lệ hơn 100 tỷ đồng có nên lập các ủy ban trực thuộc HĐQT?

Doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn điều lệ hơn 100 tỷ đồng có nên lập các ủy ban trực thuộc HĐQT như khuyến nghị của OECD. DN có thể tham khảo những mô hình nào để có thể vừa tiết kiệm chi phí vừa tăng tính chuyên nghiệp của HĐQT?

Chuyên gia tư vấn trả lời như sau: 
Pháp luật không quy định bắt buộc các công ty phải thành lập ủy ban trực thuộc hội đồng quản trị. Tuy nhiên theo điều 32 Thông tư 121/2012/TT-BTC- Các tiểu ban của Hội đồng quản trị, có khuyến nghị các công ty đại chúng quy mô lớn, công ty niêm yết cần thành lập các tiểu ban để hỗ trợ hoạt động của Hội đồng quản trị, cụ thể:
1. Hội đồng quản trị cần thành lập các tiểu ban để hỗ trợ hoạt động của Hội đồng quản trị, bao gồm tiểu ban chính sách phát triển, tiểu ban nhân sự, tiểu ban lương thưởng và các tiểu ban đặc biệt khác theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.
2. Tiểu ban nhân sự và tiểu ban lương thưởng phải có ít nhất một (01) thành viên Hội đồng quản trị độc lập làm trưởng ban.
3. Hội đồng quản trị quy định chi tiết về việc thành lập, trách nhiệm của các tiểu ban và trách nhiệm của từng thành viên.
4. Trường hợp các công ty không thành lập các tiểu ban thì Hội đồng quản trị cử thành viên Hội đồng quản trị độc lập phụ trách riêng về từng vấn đề như lương thưởng, nhân sự.
Việc có nên thành lập ủy ban để hỗ trợ Hội đồng quản trị hay không phụ thuộc vào quy mô, mức độ phức tạp, mức độ chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ cũng như yêu cầu về tính khách quan- minh bạch của các vấn đề cần Hội đồng quản trị ra quyết định. Hội đồng quản trị chỉ nên thành lập các ủy ban khi nảy sinh các nhu cầu, bắt đầu bằng những ủy ban thiết yếu nhất.
Trường hợp các công ty không thành lập các tiểu ban thì Hội đồng quản trị cử thành viên Hội đồng quản trị độc lập phụ trách riêng về từng vấn đề như lương thưởng, nhân sự.
Trong cả hai trường hợp, dù thành lập ủy ban hay cử thành viên Hội đồng quản trị độc lập phụ trách từng vần đề thì điều lệ hay quy chế quản trị công ty cũng cần quy định rõ thành phần, chức năng, phạm vi và quy trình hoạt động của ủy ban hoặc thành viên Hội đồng quản trị độc lập này.

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2016

NHP – Chút tản mạn về đội ngũ quản trị



Sự nổi tiếng của chuyên gia kinh tế Lê Xuân Nghĩa cũng như có nhiều nhân vật nổi tiếng khác cũng đang nói đỡ cho vị chuyên gia này về những vấn đề liên quan đến việc sụt giảm giá cũng như việc mua bán cổ phiếu của các thành viên của Công ty cổ phần Sản xuất Xuất nhập khẩu NHP (“NHP”). Cũng có bài báo nói về việc công ty này đang không có tiền hoặc mang hết tiền đi đầu tư, quan hệ với các công ty liên quan. Bài này sẽ không đề cập đến các vấn đề tài chính mà chỉ đề cập tới những người đang nằm trong HĐQT của NHP mà thôi.

Công ty Đại chúng dưới sự kiểm soát của 2 gia đình

Ông Lê Xuân Nghĩa, một người quá nổi tiếng trong giới chính trị gia cũng như được coi là một chuyên gia kinh tế với tấm bằng tiến sĩ từ đại học Harvards danh tiếng, trong NHP, có một người con trai cùng đứng trong hàng ngũ thành viên HĐQT. Và với việc HĐQT có 5 người, có tới 2 người thuộc gia đình ông Nghĩa và 2 người thuộc gia đình ông Ngô Văn Phương (ông và vợ mình – bà Nguyễn Thị Mai Hương – Tổng Giám đốc – từ nhiệm trong năm 2016). Với 4/5 phiếu thì hầu như mọi quyết định của NHP sẽ dựa trên ý kiến của các cổ đông này kèm theo việc vợ ông Phương là Tổng Giám đốc thì hầu như không gì có thể lọt qua được tầm kiểm soát của họ.

Chính vì lẽ đó mà các giao dịch mua bán nguyên vật liệu và hàng hoá của NHP với đối tác Công ty TNHH Thịnh Phát nơi ông Phương là giám đốc tại đó. Trong báo cáo được soát xét 6 tháng đầu năm, có đến gần 37 tỷ đồng trên 60 tỷ đồng giá vốn hàng hoá được mua từ các bên liên quan và 46 tỷ đồng trên 68 tỷ đồng doanh thu được bán cho các bên liên quan, trong đó Thịnh Phát là đơn vị được mua bán nhiều nhất. Việc biến tấu lợi nhuận sẽ trở nên dễ dàng hơn với Thịnh Phát, một công ty TNHH chẳng ai xem xét số liệu cả.

Phát hành mới nhưng cổ đông chủ chốt bán hết quyền

Ông Nghĩa là người đi đầu trong việc bán cổ phiếu của mình với 1 triệu cổ phiếu vào khoảng tháng 8 năm 2016 khi mà mức giá đang nằm quanh ở mức 16-17.000 đồng/cổ phiếu với lý do cân đối tài chính cá nhân. Rất có thể ông Nghĩa thiếu tiền làm việc gì đó nên phải bán cổ phiếu, bởi ông còn có những khoản tạm ứng tiền ra vào rất lớn, lên đến hàng tỷ đồng trong báo cáo 6 tháng của NHP.

Việc làm này ngay sau khi công ty công bố chốt ngày trả cổ tức và phát hành thêm cổ phiếu. Và thực sự ngỡ ngàng đối với các cổ đông khác khi thông tin các cổ đông chủ chốt (thành viên HĐQT, Ban Giám đốc) dốc sức bán gần hết quyền mua cổ phiếu của mình trước khi đến thời điểm phải nộp tiền mua.

Họ là những cổ đông lớn, những người bấm nút cho việc phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn cho công ty nhưng họ nhanh chóng bán hết cái quyền họ có thể đóng góp thêm nguồn lực cho công ty. Vậy nếu họ không thể cân đối được tài chính, họ có thể đưa ra phương án phát hành riêng lẻ để đảm bảo lợi ích cho cổ đông cũng như tránh việc lùa gà vào chuồng rồi người ra quyết định lại bỏ của chạy lấy người.

Chính vì vậy, ngày giao dịch đầu tiên của cổ phiếu phát hành thêm (6/10/2016) là ngày đầu tiên trong chuỗi ngày từ 16.000 đồng đi về 3.200 đồng của NHP. Một tín hiệu đáng xem đó là khi cổ phiếu rơi với tốc độ chóng mặt, đâu đó vẫn có những giao dịch thoả thuận với khối lượng lớn.

Niềm tin của nhà đầu tư lung lay khi người quyết định phát hành thêm (HĐQT) lại là người ra tay bán hết những quyền đó trước khi góp vốn.

Thành viên HĐQT đến từ doanh nghiệp có vết

Ông Phong là một người có lẽ nổi tiếng trên thị trường. Nổi tiếng bởi ông từng làm Chủ tịch HĐQT của Khoáng sản Bắc Giang (BGM) trong giai đoạn từ 2012-2014 (mặc dù trong Báo cáo thường niên 2015 của NHP chỉ đề là từ 2012-2013 trong khi năm 2014 vẫn có những thông báo về việc bán cổ phiếu BGM của vị chủ tịch này – từ nhiệm ngày 22/1/2014) nơi mà tiếng tăm lừng lẫy về sự sụt giảm cổ phiếu, phát hành thêm cũng như khó khăn trong việc tổ chức đại hội đồng cổ đông.

Với việc thành viên HĐQT liên quan đến doanh nghiệp có vết như vậy, tình hình quản trị của NHP chắc chắn cũng không sáng sủa gì và điều gì phải đến đã đến, giá cổ phiếu NHP rơi không khác sự rơi của BGM.

Vay mua siêu xe của ngân hàng nơi mình là thành viên HĐQT

Trong báo cáo của NHP có một điểm thuyết minh khá đặc biệt khi NHP vay tiền của Ngân hàng TMCP Quốc Dân để mua siêu xe Mercedes S500L. Điều đặc biệt là ông Nghĩa lại là thành vien HĐQT của ngân hàng này. Không rõ quy chế của ngân hàng này có tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước trong việc cung cấp tín dụng cho đơn vị liên quan đến thành viên HĐQT hay không nhưng việc làm này cũng đã cho thấy, việc ông Nghĩa thân làm thành viên HĐQT của Ngân hàng TMCP Quốc Dân cũng nên giữ gìn hình ảnh cho nơi ông đang làm thành viên (có thể là độc lập) ở đó.

Một điểm nữa đó là đây là doanh nghiệp rất chịu chơi khi sắm xe sang cho lãnh đạo di chuyển (S500L). Người phải cõng các chi phí liên quan đến siêu xe này chắc hẳn là các cổ đông của họ. Nếu họ mang lại lợi ích cho cổ đông thì chắc cũng không ai tiếc lắm.

Trưởng Ban Kiểm soát siêu trẻ

Nếu nhìn qua lý lịch của Trưởng Ban Kiểm soát của NHP thì thật là ngưỡng mộ. Sinh năm 1991, kinh nghiệm làm kế toán từ năm 2013 đến nay tại một doanh nghiệp không nhiều tên tuổi và năm 2014 (1 năm sau khi đi làm) đã được bổ nhiệm ngay làm Trưởng Ban Kiểm soát của NHP.

Với tuổi đời cũng như tuổi nghề (1 năm kinh nghiệm) đã được làm Trưởng Ban Kiểm soát thì cho thấy rằng đây có lẽ là một cá nhân kiệt xuất.

Trong ĐHĐCĐ 2016, vị Trưởng BKS này đã được miễn nhiệm chức danh Trưởng BKS nhưng lại được bổ nhiệm vào chức danh Tổng Giám đốc của NHP, một sự tiến bộ vượt bậc.

Thay thế vào BKS của NHP là những nhân vật mới với đầy triển vọng khi một người sinh năm 1984 và một người khác sinh năm 1992, những nhân vật kiệt suất và siêu trẻ.

Doanh nghiệp đã từng có vết về việc thao túng cổ phiếu

Năm 2015, khi bắt đầu lên sàn chứng khoán, NHP đã bị một cá nhân thao túng giá cổ phiếu và đã bị UBCK phạt với mức phạt lên đến 550 triệu đồng. Trong thời gian này, giá cổ phiếu của NHP lên sàn đã tăng vượt bậc từ mức 15.600 đồng/cổ phiếu lên đến mức đỉnh điểm là trên 26.000 đồng/cổ phiếu và kéo theo sau đó là màn rơi ngoạn mục về mức giá dao động quanh 14.000 đồng/cổ phiếu.

Một điều đáng quan tâm là cổ đông của NHP khá là “cô đặc” điển hình là tại ĐHĐCĐ của công ty năm 2016, chỉ có 29 cổ đông chiếm tới 94,95% số cổ phiếu lưu hành tương ứng với việc chỉ có khoản 900 ngàn cổ phiếu là trôi nổi ở bên ngoài. Vậy trong đợt giảm giá của NHP, khối lượng giao dịch luôn cao vậy việc bán ra có chăng nằm chủ yếu ở 29 nhân vật trên mà thôi.

Kết luận

Với một doanh nghiệp có những dấu ấn về đội ngũ quản trị như vậy, việc các nhà đầu tư mất tiền khi gửi niềm tin cho họ thì cũng là việc đương nhiên mà thôi.

Đây là bài viết dựa trên quan điểm cá nhân về cách nhìn nhận về tình hình quản trị của một doanh nghiệp. Không mục đích bôi nhọ hay nói xấu bất cứ một cá nhân nào.

Nguồn: Kiemtoanpro

Cách nào đảm bảo quyền bình đẳng của các cổ đông?

Một trong những thông lệ quản trị tốt là đảm bảo quyền bình đẳng của các cổ đông. Ở một số doanh nghiệp, có những cổ đông nắm giữ quyền kiểm soát hoặc sự ảnh hưởng không tương ứng với tỷ lệ cổ phần mà họ sở hữu. Về vấn đề này, thông lệ tốt để doanh nghiệp tham khảo nhằm đảm bảo quyền bình đẳng cho cổ đông sẽ như thế nào?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:

Hiện nay, doanh nghiệp có thể tham khảo các thông lệ quản trị công ty tốt theo OECD để đảm bảo quyền bình đẳng cho cổ đông:
1. Khuôn khổ quản trị công ty cần bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện quyền cổ đông, đảm bảo đối xử công bằng với tất cả cổ đông, trong đó bao gồm cổ đông thiểu số và cổ đông nước ngoài.
Công bố thông tin công khai, minh bạch, các kênh phổ biển thông tin phải đảm bảo các cổ đông đều có quyền tiếp cận thông tin như nhau, bao gồm: tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh,…
Quy trình và thủ tục tổ chức đại hội đồng cổ đông phải đảm bảo công bằng cho các cổ đông. Cụ thể, tạo điều kiện cho mọi cổ đông nhận thông tin đầy đủ, kịp thời, tham gia trao đổi, đóng góp ý kiến về các vấn đề quan trọng của công ty; cổ đông được đề cử, bầu chọn thành viên hội đồng quản trị (HĐQT), ban kiểm soát; Loại bỏ các trở ngại về biểu quyết với nhà đầu tư nước ngoài, các cổ đông thiểu số thông qua việc sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong biểu quyết (đại hội trực tuyến, bỏ phiếu điện tử)…
Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại hiệu quả khi quyền của họ bị vi phạm.

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2016

Những mô hình IR cần tham khảo

Doanh nghiệp của tôi chuẩn bị niêm yết và đang tìm hiểu về quan hệ nhà đầu tư (IR), xin hỏi với một doanh nghiệp có vốn điều lệ trên 2.000 tỷ đồng, nhà nước vẫn sở hữu cổ phần chi phối, có thể tham khảo những mô hình IR nào (nên lập một bộ phận riêng hay thuê ngoài)?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Quan hệ nhà đầu tư (IR) là công tác quản trị chiến lược kết hợp giữa tài chính, truyền thông, marketing trên cơ sở tuân thủ pháp luật, tạo nên mối quan hệ hai chiều hiệu quả giữa một doanh nghiệp với cộng đồng tài chính và những bên có quyền lợi liên quan, nhằm góp phần định giá đúng giá trị chứng khoán của doanh nghiệp (theo Học viện Quan hệ nhà đầu tư quốc gia Hoa Kỳ - NIRI).
Trọng tâm của IR là hoạt động trao đổi thông tin hai chiều giữa doanh nghiệp với cổ đông, nhà đầu tư, các nhà phân tích…, nhằm thỏa mãn cung - cầu về thông tin, mang lại lợi ích cho cả hai bên. Về phần cung, đảm bảo cung cấp thông tin thường xuyên, có giá trị, thông tin đúng mục đích, đúng đối tượng thông qua các thông báo, trang thông tin điện tử, báo cáo, tổ chức các buổi họp (đại hội đồng cổ đông, họp báo, hội thảo, gặp gỡ nhà đầu tư…). Về phần cầu, đảm bảo doanh nghiệp hiểu được nhu cầu thông tin của cộng đồng đầu tư, hiểu được thị trường đang định giá công ty thế nào, dựa trên những thông tin gì và tại sao lại định giá như vậy.
Hiện nay, hoạt động IR được doanh nghiệp tổ chức dưới các hình thức:
- Kiêm nhiệm (đặt bộ phận IR được phụ trách kiêm nhiệm bởi một phòng ban hoặc 1 cá nhân trong công ty như: phòng kế toán, tổ chức hành chính, phòng marketing…
- Lập bộ phận riêng độc lập
- Thuê ngoài: thuê các tổ chức tư vấn, công ty chứng khoán chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ này.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, công ty cổ phần đại chúng không bắt buộc phải có bộ phận quan hệ nhà đầu tư, tuy nhiên, theo thông lệ quản trị công ty tốt, doanh nghiệp cần lập một bộ phận chuyên trách, độc lập phụ trách hoạt động IR. Bộ phận này chịu sự quản lý trực tiếp của CEO (giám đốc điều hành) hoặc CFO (giám đốc tài chính). Các thành viên trong bộ phận này phải có kiến thức, kinh nghiệm về tài chính, thị trường vốn; hiểu biết thấu đáo về hoạt động của công ty, có mối liên hệ chặt chẽ với các vị trí quản lý, điều hành cấp cao của công ty…
Ở trường hợp cụ thể này, doanh nghiệp đại chúng quy mô lớn (vốn điều lệ trên 2.000 tỷ đồng), mức độ đại chúng khá cao do đáp ứng đủ điều kiện niêm yết mặc dù nhà nước vẫn sở hữu chi phối. Do đó, doanh nghiệp cần có nhân viên chuyên trách hoặc bộ phận IR độc lập để hỗ trợ ban lãnh đạo trong công tác quan hệ nhà đầu tư đảm bảo công khai, minh bạch, bình đẳng giữa các cổ đông (cổ đông nhà nước và các cổ đông khác).
Việc lựa chọn giữa việc có nhân viên chuyên trách hay bộ phận IR độc lập, phụ thuộc vào mức độ phức tạp trong hoạt động của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề, trong nhiều lĩnh vực khác nhau, có nhiều bên có quyền lợi liên quan, nhiều thông tin công bố… thì nên lập bộ phận IR độc lập để chuyên nghiệp hóa hoạt động IR, hỗ trợ nhà đầu tư tốt hơn.
Ngoài ra, do doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác IR, để hoàn thiện công tác này (quy trình, chiến lược, tạo lập quan hệ với cộng đồng nhà đầu tư, đảm bảo cung cấp thông tin đúng mục đích, đúng đối tượng, chính xác, kịp thời, xử lý tình huống phát sinh…), doanh nghiệp nên thuê ngoài các công ty chuyên nghiệp (tổ chức tư vấn, công ty chứng khoán) hỗ trợ thêm hoạt động IR.

Thứ Tư, 16 tháng 11, 2016

Tình tiết mới trong “ván bài” Habeco – Carlsberg


Câu chuyện thoái vốn Nhà nước tại Tổng công ty cổ phần Bia – Rượu -Nước giải khát Hà Nội (Habeco, mã BHN) đang nóng lên từng ngày, đặc biệt khi cổ phiếu Habeco vừa được đưa vào giao dịch tập trung trên UPCoM (giá 72.100 đồng/CP ngày 1/11/2016). Điều làm thị trường quan tâm là vì sao Carlsberg có được những thỏa thuận mang tính ưu tiên trong việc mua thâu tóm Habeco và những thỏa thuận đó là gì?

Hé lộ những thỏa thuận “trói chân” Habeco

Trong kế hoạch thoái vốn Habeco, ngoài câu chuyện định giá cổ phiếu là bao nhiêu, điều được nhà đầu tư quan tâm là, Carlsberg sẽ được mua thêm đến mức nào tại Habeco khi cổ đông Nhà nước – Bộ Công thương thực hiện thoái vốn?

Những ngày qua, có rất nhiều thông tin được đưa ra, không nói rõ thỏa thuận là gì nhưng đều chung một thông điệp Carlsberg được ưu tiên mua cổ phần tại Habeco. Mấu chốt nằm ở những điều khoản trong hợp đồng chiến lược ký kết giữa hai bên, mà cho đến nay vẫn nằm trong vòng bí mật.

Một nguồn tin có trách nhiệm cho Báo Đầu tư Chứng khoán biết, thỏa thuận hợp tác chiến lược ký với Carlsberg từ khi Habeco cổ phần hóa năm 2008, trong đó có quy định về quyền ưu tiên mua cổ phần tại Habeco, tập trung ở 2 nội dung: mua theo hình thức thỏa thuận nhà đầu tư chiến lược nước ngoài duy nhất và thỏa thuận về quyền ưu tiên mua.
Cụ thể hơn, với thỏa thuận liên quan đến nhà đầu tư chiến lược nước ngoài duy nhất, bên bán (là Bộ Công thương) không được bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược khác, trừ trường hợp nhà đầu tư đó mua lại cổ phần từ bên thứ 3 (cổ đông khác) trên thị trường hoặc thông qua phiên đấu giá công khai.

Đối với nội dung này, khái niệm nhà đầu tư chiến lược được hiểu là hãng sản xuất khác hoặc nhà đầu tư sở hữu trên 5% cổ phần của Habeco, hoặc bên dự định có quan hệ liên minh chiến lược với Habeco. Còn đấu giá công khai được hiểu là “Đấu giá công khai tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội”.

Với thỏa thuận quyền mua ưu tiên, Carlsberg cũng đã có ràng buộc với phía Việt Nam, trong đó bên bán muốn chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần cổ phần thì phải đảm bảo nguyên tắc: nếu mua theo hình thức đàm phán trực tiếp thì số cổ phần đó phụ thuộc vào quyền ưu tiên mua đầy đủ của bên Mua (là Carlsberg), tức là phải chào cho Carlsberg trước.

Trong trường hợp có quy định của pháp luật mà bên bán (Bộ Công thương) phải chuyển nhượng số cổ phần của mình theo hình thức đấu giá công khai, thì đồng thời hoặc ngay sau phiên đấu giá công khai, bên bán sẽ phải chào bán hoặc để lại trong số cổ phần còn lại cho bên mua quyền ưu tiên số lượng cổ phần sao cho nếu so với số cổ phần được đấu giá thì bằng tỷ lệ giữa số cổ phần mà Carlsberg đã mua ở thời điểm cổ phần hóa so với số cổ phần đã bán cho nhà đầu tư khác ở cùng thời điểm.

Điều lưu ý là, tại thời điểm cổ phần hóa, Carlsberg sở hữu 15% vốn điều lệ và các nhà đầu tư khác mua 3,21% vốn điều lệ.

Như vậy, nhìn vào thỏa thuận trên có thể thấy, Carlsberg sẽ được hưởng quyền ưu tiên mua khi Nhà nước thoái vốn tại Habeco. Với trường hợp bán đấu giá công khai, số cổ phần còn lại sau phiên đấu giá sẽ gần như chắc chắn thuộc về Carlsberg.

Cái vướng của Bộ Công thương

Sau cổ phần hóa, năm 2010, Bộ Công thương từng một lần đưa ra đấu giá công khai 3% vốn điều lệ Habeco, nhưng sau đó bị hủy bỏ. Sau đó, phía Habeco cũng từng tính đến việc cho phép Carlsberg mua thêm để nâng sở hữu lên 30% vốn điều lệ, nhưng đến nay phương án này vẫn chưa được Habeco tổ chức họp đại hội đồng cổ đông để thông qua.

“Carlsberg gần đây tuyên bố sẵn sàng mua Habeco bằng mọi giá, nhưng thực ra đây chỉ là thông tin truyền thông”

Một số nguồn tin cho biết, trong nhiều năm qua, Bộ Công thương đã nhiều lần đàm phán lại với phía Carlsberg để thay đổi một số điều khoản trong thỏa thuận chiến lược đã ký. Trong thời gian vừa qua, hai bên cũng đã tiếp tục ngồi lại với nhau để tìm phương án, nhưng chưa có tiếng nói chung.

“Nhiều thông tin nói rằng, Bộ Công thương không muốn bán Habeco cho Carlsberg, nhưng nói thế là không chuẩn. Lý do của việc muốn đàm phán để thay đổi thỏa thuận đã có là vì phía Việt Nam muốn được bán với giá cao nhất có thể, mà giá này chỉ có thể hình thành khi có sự cạnh tranh. Hiện tại, Carlsberg đã có hơn 17% vốn điều lệ Habeco, nếu đơn vị này sở hữu tới 30% vốn điều lệ, thì các nhà đầu tư chiến lược khác sẽ ngần ngại nếu muốn vào Habeco. Carlsberg gần đây tuyên bố sẵn sàng mua Habeco bằng mọi giá, nhưng thực ra đây chỉ là thông tin truyền thông. Thực tế, với những gì đã ghi trong cam kết, nếu không thay đổi điều khoản, sẽ khó khăn hơn cho bên bán nếu muốn tối đa hóa lợi ích”, nguồn tin có trách nhiệm cho biết.

Động thái mới của Carlsberg

Gần đây, Carlsberg đã có công văn gửi Bộ Công thương, với nội dung muốn được duy trì các quyền ưu tiên đã xác lập trong hợp đồng đã ký từ năm 2008. Thế nhưng, Bộ Công thương dường như vẫn muốn tìm một phương án bán mới, phù hợp với mục tiêu cao nhất là tối ưu hóa lợi ích cho bên bán.

Ngày 31/10/2016, phía Carlsberg đã có cuộc làm việc với Bộ Công thương. Được biết, tại cuộc làm việc này, Carlsberg đưa ra 3 điều kiện cho phía Bộ Công thương nếu muốn hủy thỏa thuận cũ.

Theo đó, Carlsberg đề xuất Bộ Công thương phân số cổ phần còn lại thành 2 gói cổ phần là block A và block B, với block A gồm 20% vốn điều lệ Habeco, block B là phần còn lại, tương đương 61,79% vốn điều lệ Habeco. Việc bán cổ phần sẽ chia làm 2 bước, bao gồm bán đấu giá công khai block A ra bên ngoài, trong đó Carlsberg được quyền tham gia đấu giá và block B sẽ bán thỏa thuận cho Carlsberg.

Thị phần bia tại thị trường Việt Nam: Sabeco xấp xỉ 40%, Heineken hơn 21%, Habeco, 20%, Carlsberg 10,8%.

Cũng theo thỏa thuận này, phía Bộ Công thương cần xác lập có lộ trình chi tiết cho Carlsberg biết về kế hoạch thoái vốn.

Tuy nhiên, đây mới là đề xuất của Carlsberg, hiện Bộ Công thương chưa có ý kiến phản hồi. Câu chuyện tìm tiếng nói chung dường như cần thêm nhiều thời gian nữa, khi một bên muốn tối ưu hóa lợi ích thu được khi bán vốn tại Habeco, một bên đang có trong tay quyền mua ưu tiên và mua lớn khi Nhà nước thoái vốn.

“Mục sở thị” sức khỏe tài chính Carlsberg

Phải 1 tuần nữa mới có báo cáo tài chính quý III/2016 của Carlsberg. Tuy nhiên, báo cáo nửa đầu năm 2016 của Carlsberg cho thấy, tại ngày 30/6/2016, vốn chủ hợp nhất của Carlsberg Brewery A/S là 45.654 triệu Drone Đan Mạch – DKK, tương đương xấp xỉ 6,73 tỷ USD, trong đó riêng số dư tiền và tương đương tiền là 3.642 triệu DKK (537 triệu USD), chưa kể các khoản phải thu trị giá 4.270 triệu DKK, 7.382 triệu DKK tài sản tài chính.



Với quy mô này, nếu có quyền mua toàn bộ hay mua chi phối Habeco (vốn hóa hiện tại chỉ hơn 16.533 tỷ đồng, chưa đầy 800 triệu USD), khoản tiền Carlsberg bỏ ra không có gì khó khăn, so với tổng tài sản DN này đang quản lý.

Về tình hình kinh doanh, châu Á là một trong những thị trường lớn của Carlsberg, nhưng diễn biến kinh doanh đang có xu hướng sụt giảm trong nửa đầu năm nay. Theo đó, 6 tháng đầu năm, Carlsberg bán được 1.900 triệu lít bia và 200 triệu lít đồ uống khác trong tổng số 6.420 triệu lít bia và 1.180 triệu lít đồ uống Tập đoàn bán ra toàn cầu. Chiếm tỷ trọng lớn, nhưng so với cùng kỳ năm 2015, khối lượng bia bán ra tại thị trường này đã giảm 4%, dẫn tới doanh số khu vực giảm 4% tương ứng.

Việt Nam là một trong những thị trường tăng trưởng khá về quy mô nửa đầu năm nay, đạt mức 8% (theo Carlsberg). Tuy nhiên, khối lượng bán ra của Carlsberg trong khoảng thời gian này giảm, mà theo Công ty, là do ảnh hưởng của yếu tố Tết cổ truyền.

Với cơ cấu thị trường bia hiện nay, gồm xấp xỉ 40% thị phần thuộc về Tổng công ty cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco), hơn 21% thuộc về Heineken, 20% thuộc về Habeco và 10,8% là Carlsberg, chiếm được Habeco, Carlsberg sẽ có cơ hội nắm được trên 30% thị phần của Việt Nam – là con số không nhỏ của thị trường hơn 93 triệu dân.

Thế nhưng, Carlsberg có thể mua thêm cổ phần Habeco với tỷ lệ nào vẫn đang là câu hỏi ngỏ. Habeco là một trong số ít DN Việt Nam đã xây dựng nên và sở hữu thương hiệu lớn Bia Hà Nội. Dư luận dõi theo Bộ Công thương, dõi theo “ván bài Habeco – Carlsberg”, chờ đợi một lời giải cân bằng và hữu ích cho quốc gia.

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2016

Điều kiện để doanh nghiệp áp dụng bỏ phiếu điện tử - Evoting

Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) gần đây nhắc đến việc cung cấp dịch vụ bỏ phiếu điện từ (Evoting). Xin hỏi, doanh nghiệp hiện đã có đủ điều kiện để áp dụng Evoting chưa? Ở các TTCK khác, trình tự Evoting được thực hiện thế nào?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Theo quy định của Khoản 2, Điều 140, Luật Doanh nghiệp 2014 - Thực hiện quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông (ĐHCĐ): Cổ đông được coi là tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHCĐ trong trường hợp sau đây:
a) Tham dự và biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp;
b) Ủy quyền cho một người khác tham dự và biểu quyết tại cuộc họp;
c) Tham dự và biểu quyết thông qua hội nghị trực tuyến, bỏ phiếu điện tử hoặc hình thức điện tử khác;
d) Gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua gửi thư, fax, thư điện tử.
Như vậy, doanh nghiệp hoàn toàn có đủ điều kiện pháp lý để tổ chức ĐHCĐ trực tuyến, bỏ phiếu điện tử.
Kinh nghiệm ở các thị trường phát triển trên thế giới (Mỹ, Nhật, Singapore, Thượng Hải, Hàn Quốc, Ấn Độ…) hầu hết đều đã ứng dụng công nghệ thông tin để tổ chức ĐHCĐ. Việc tổ chức ĐHCĐ trực tuyến, bỏ phiếu điện tử là rất phổ biến, thậm chí là quy định bắt buộc đối với công ty niêm yết ở một số thị trường.
Theo đó, các cổ đông được theo dõi diễn biến ĐHCĐ phát trực tiếp qua website (ĐHCĐ năm 2016 của Tập đoàn Berkshire Hathaway của tỷ phú Warren Buffett được phát trực tiếp qua trang thông tin tài chính của Yahoo).
Cổ đông được cung cấp tên đăng nhập, mật khẩu để truy cập hệ thống trên website để tải tài liệu, thực hiện biểu quyết, bầu cử trực tuyến, cũng như hỗ trợ cổ đông gửi câu hỏi, trao đổi trực tiếp tới ban lãnh đạo doanh nghiệp (trước và trong khi diễn ra ĐHCĐ); sau Đại hội, cho phép cổ đông xem trực tiếp kết quả và xem lại diễn biến Đại hội.
ĐHCĐ trực tuyến, bỏ phiếu điện tử là thông lệ quản trị công ty tốt trên thế giới, góp phần tiết kiệm chi phí, thời gian của cổ đông và doanh nghiệp, gia tăng tỷ lệ tham dự, đảm bảo quyền lợi của cổ đông. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các công ty có mức độ đại chúng cao, cơ cấu cổ đông phân tán, cần mạnh dạn áp dụng để đảm bảo khả năng tổ chức ĐHCĐ thành công ngay từ lần họp đầu tiên, nâng cao hơn nữa chất lượng quản trị công ty.

Thứ Tư, 9 tháng 11, 2016

Cổ đông nhỏ lẻ phải làm gì nếu muốn khởi kiện ban lãnh đạo doanh nghiệp?

Cổ đông nhỏ lẻ có thể sử dụng quyền khởi kiện ban lãnh đạo doanh nghiệp như thế nào để bảo vệ quyền lợi của mình?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Theo quy định của Điều 161 Luật doanh nghiệp 2014- Quyền khởi kiện đối với thành viên Hội đồng quản trị ( TV HĐQT), Giám đốc (GĐ), Tổng Giám đốc (TGĐ):
“1. Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với TV HĐQT, GĐ hoặc TGĐ trong các trường hợp sau đây:
a) Vi phạm nghĩa vụ người quản lý công ty theo quy định tại Điều 160 của Luật này;
b) Không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời nghị quyết của Hội đồng quản trị;
c) Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao trái với quy định của pháp luật, Điều lệ công ty hoặc nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;
d) Sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ cho lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
đ) Sử dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
e) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
2. Trình tự, thủ tục khởi kiện thực hiện tương ứng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Chi phí khởi kiện trong trường hợp cổ đông, nhóm cổ đông khởi kiện nhân danh công ty sẽ tính vào chi phí của công ty, trừ trường hợp thành viên khởi kiện bị bác yêu cầu khởi kiện.”
Do đó, để có thể khởi kiện TVHĐQT, GĐ, TGĐ trước tiên cổ đông cần tập hợp nhau lại để có đủ tỷ lệ 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 6 tháng; xác định nội dung yêu cầu khởi kiện, gửi đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp, chứng minh sai phạm cũng như thiệt hại nếu có từ các sai phạm trên của TV HĐQT, GĐ, TGĐ (dựa trên quy định của pháp luật hiện hành, điều lệ, quy chế quản trị của công ty) …

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016

Doanh nghiệp cần phải tuân thủ những quy định pháp luật nào và nên tập trung vào những nội dung gì để cải thiện hệ thống quản trị công ty?

Doanh nghiệp chúng tôi chưa niêm yết nhưng mong muốn cải thiện hệ thống quản trị công ty giống như các doanh nghiệp niêm yết nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao uy tín của doanh nghiệp cũng như khả năng tiếp cận thị trường vốn. Xin tư vấn giúp chúng tôi, Doanh nghiệp cần phải tuân thủ những quy định pháp luật nào và nên tập trung vào những nội dung gì để cải thiện hệ thống quản trị công ty?

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau: 
Theo IFC, có 4 cấp độ và lợi ích của Quản trị công ty hiệu quả như sau:

Ở trường hợp cụ thể này, doanh nghiệp chưa niêm yết nhưng mong muốn cải thiện hệ thống quản trị công ty giống như các doanh nghiệp niêm yết, doanh nghiệp (Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc) cần tập trung xây dựng và ban hành các tài liệu nội bộ về quản trị công ty, trong đó có thể tuân thủ các quy định, tiêu chuẩn cao hơn áp dụng cho công ty niêm yết:Bước đầu tiên để thực hiện quản trị công ty tốt các doanh nghiệp phải thực hiện từ cấp độ 1- Tuân thủ pháp luật và các quy định dưới luật: đảm bảo quyền của các cổ đông; đối xử công bằng với các cổ đông; đảm bảo vai trò của các bên có quyền lợi liên quan; công bố thông tin và tính minh bạch; đảm bảo trách nhiệm của Hội đồng quản trị.
- Điều lệ công ty theo luật Doanh nghiệp 2014, điều lệ mẫu- phụ lục đính kèm Thông tư 121/2012/TT-BTC và các quy định pháp luật khác có liên quan.
- Quy chế quản trị công ty theo Thông tư 121/2012/TT-BTC áp dụng cho các công ty đại chúng.
- Các quy định nội bộ khác (quy tắc đạo đức kinh doanh, nội quy lao động, quy định tài chính, đầu tư, quản trị rủi ro…)
- Tuân thủ các nghĩa vụ về công bố thông tin theo Thông tư 155/2015/TT-BTC- Hướng dẫn Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.
Về quản trị công ty, doanh nghiệp cần lưu ý tuân thủ quy định trong luật doanh nghiệp, luật chứng khoán và các nghị định hướng dẫn thi hành (Nghị định 58/2012/NĐ-CP, Nghị định 60/2015/NĐ-CP); Thông tư 121/2012/TT-BTC về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng; Thông tư 155/2015/TT-BTC- Hướng dẫn Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, các quy định của pháp luật chuyên ngành nếu có…

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016

Điều kiện để doanh nghiệp tạm ứng cổ tức

Nhiều DN đang vào mùa tạm ứng cổ tức năm 2016. Xin hỏi, điều kiện để DN tạm ứng cổ tức? DN chúng tôi có lợi nhuận bán niên không cao nhưng lợi nhuận chưa chia còn nhiều, nên lưu ý gì nếu muốn thực hiện tạm ứng cổ tức?

Chuyên gia tư vấn xin trả lời như sau:
Luật không quy định cụ thể về thời hạn tạm ứng cổ tức cho năm tài chính hiện tại (2016). Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 2, Điều 132, Luật Doanh nghiệp 2014, cổ tức trả cho cổ phần phổ thông được xác định căn cứ vào số lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty. Công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức của cổ phần phổ thông khi có đủ các điều kiện sau:
a) Công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
b) Đã trích lập các quỹ công ty và bù đắp đủ lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty.
c) Ngay sau khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn.
Đồng thời, theo Khoản 2, Điều 149, Luật Doanh nghiệp 2014 và điều lệ công ty thì HĐQT có thể quyết định thời gian và tỷ lệ tạm ứng cổ tức cho năm 2016 dựa trên:
- Mức cổ tức dự kiến 2016 đã được ĐHCĐ thông qua.
- Tình hình sản xuất - kinh doanh hiện tại và kết quả kinh doanh dự kiến trong năm 2016.
Trong trường hợp cụ thể này, doanh nghiệp có lợi nhuận bán niên không cao nhưng lợi nhuận chưa chia còn nhiều, HĐQT có thể thực hiện tạm ứng cổ tức từ nguồn lợi nhuận giữ lại, tuy nhiên vẫn phải căn cứ trên mức cổ tức dự kiến đã được ĐHCĐ thông qua và tình hình sản xuất - kinh doanh của công ty. HĐQT cần lưu ý, phải cân đối được nguồn tiền chi trả và các nghĩa vụ tài chính khác sau khi tạm ứng cổ tức.
Ngoài ra, doanh nghiệp nên xây dựng một chính sách cổ tức lâu dài phù hợp với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Trên định hướng dài hạn đó, tùy từng năm và điều kiện cụ thể, có thể điều chỉnh mức chi trả cổ tức cho phù hợp với tình hình thực tế.

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016

Điều kiện để Nghị quyết Đại hội đồng Cổ đông được thông qua là gì?

Điều lệ của công ty tôi là một DN bảo hiểm quy định một số nội dung biểu quyết tại Đại hội đồng Cổ đông được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 80% tổng số phiếu quyền biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành. Xin hỏi theo luật mới, doanh nghiệp có phải sửa đổi điều lệ này? Và nên quy định như thế nào để đảm bảo quyền cổ đông vì trước đây nhà nước nắm chi phối DN nay cổ đông này đang thực hiện thoái vốn.

Chuyên gia Tư vấn xin trả lời như sau:
Theo quy định của khoản 1, 2 Điều 144 Luật Doanh nghiệp 2014- Điều kiện để nghị quyết được thông qua: nghị quyết về các nội dung sẽ được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 51% hoặc 65% (tùy từng trường hợp cụ thể) tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành, tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.
Như vậy, Điều lệ của công ty quy định một số nội dung phải được 80% cổ đông có quyền biểu quyết tán thành là không trái luật.
Do luật doanh nghiệp 2014 mới ra đời và có hiệu lực từ 01/07/2015 và dựa trên thực tế hoạt động của doanh nghiệp (trước đây nhà nước nắm chi phối và đang thực hiện thoái vốn tại doanh nghiệp) nên để đảm bảo quyền lợi của cổ đông, phù hợp với luật doanh nghiệp, với cơ cấu cổ đông mới dự kiến thay đổi; cổ đông, Hội đồng quản trị nên đưa nội dung sửa đổi điều lệ công ty (trong đó có nội dung quy định về tỷ lệ tối thiểu để biểu quyết thông qua các vấn đề tại Đại hội đồng cổ đông) ra Đại hội đồng Cổ đông gần nhất để trao đổi thảo luận. Đại hội đồng cổ đông sẽ quyết định có nên thay đổi tỷ lệ 80% theo quy định của điều lệ hiện tại; và nếu thay đổi thì sẽ quy định tỷ lệ nào cho phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp.

Quy chế công bố thông tin mới của HNX có gì mới?

Tổng giám đốc Sở GDCK Hà Nội (HNX) vừa ký Quyết định số 606 về việc ban hành Quy chế công bố thông tin (CBTT) tại HNX, thay thế cho Quy chế CBTT được ban hành tại Quyết định số 250 ngày 6/6/2013. Quy chế CBTT mới hướng dẫn chi tiết các quy định về CBTT mà trong Thông tư 155/2015 chưa quy định rõ.
Ví dụ, theo quy định tại Thông tư 155, DN phải giải trình khi kết quả hoạt động kinh doanh có sự chênh lệch từ 5% trở lên thì tại Quy chế của HNX, quy định cụ thể là áp dụng đối với khoản mục doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế tại báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch quy mô lớn.
Về quy định thời hạn nộp báo cáo tình hình quản trị công ty của tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch quy mô lớn, theo quy định tại Thông tư 155 là chậm nhất 30 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo, tại Quy chế của HNX quy định rõ là ngày 30/7 đối với báo cáo quản trị 6 tháng và 30/1 đối với báo cáo quản trị năm.
Đối với quy định về thời hạn mà tổ chức đăng ký giao dịch phải gửi báo cáo danh sách cổ đông nhà nước, cổ đông lớn, Thông tư 155 không quy định cụ thể, tuy nhiên theo Quy chế của HNX thì tổ chức đăng ký giao dịch gửi báo cáo 6 tháng đầu năm chậm nhất là ngày 30/7, 6 tháng cuối năm chậm nhất là ngày 30/1.
Bên cạnh đó, quy chế mới cũng mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các đối tượng tham gia TTCK phái sinh tại HNX và bổ sung các đối tượng phải CBTT là công ty quản lý quỹ và quỹ hoán đổi danh mục (ETF). Những điểm thay đổi này nhằm đón đầu, chuẩn bị cho việc đưa TTCK phái sinh vào hoạt động trong năm 2017 cũng như hoàn thiện quy định về CBTT của quỹ ETF khi chứng chỉ quỹ ETF đã được đưa vào giao dịch trên HNX từ cuối năm 2014.
Trên tinh thần của Thông tư 155, quy chế CBTT mới bổ sung quy định CBTT bằng tiếng Anh đối với tổ chức đăng ký giao dịch, tổ chức niêm yết, công ty chứng khoán thành viên, tuy nhiên những quy định này chỉ mang tính khuyến nghị.
HNX mong muốn việc công bố thông tin của doanh nghiệp sẽ dễ dàng, thuận lợi hơn, hướng tới mục tiêu minh bạch hóa thông tin doanh nghiệp trên TTCK.

Rút ngắn thời gian giao dịch cổ phần IPO


Ngày 1/11 tới đây, Thông tư số 115/2016/TT-BTC về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 196/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính về hướng dẫn bán cổ phần lần đầu (IPO) và quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần chính thức có hiệu lực.
Điểm đáng lưu ý nhất tại Thông tư 115/2016 là quy định gắn hoạt động đấu giá tại Sở GDCK đồng thời với đăng ký giao dịch cổ phần của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ sau 20 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn thanh toán tiền mua cổ phần qua đấu giá, nhà đầu tư có thể giao dịch cổ phần trên thị trường UPCoM.
Có thể nói, đây là thay đổi mang tính kỹ thuật nhưng tạo ra hiệu ứng đột phá nhất từ trước đến nay đối với vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Nếu như Quyết định 51/2014/QĐ-TTg đã tạo được bước tiến lớn khi bắt buộc các doanh nghiệp nhà nước đưa cổ phiếu sau đấu giá vào giao dịch tập trung trên UPCoM trong vòng 90 ngày kể từ ngày doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì Thông tư 115/2016/TT-BTC đã tiến thêm một bước dài khi quy định đăng ký đấu giá đồng thời với đăng ký giao dịch cổ phần trên UPCOM, nghĩa là cơ chế tự động đăng ký giao dịch trên UPCoM.
Các quy định mới này đã tăng cường tính thực thi pháp luật, nhờ đó, tình trạng các doanh nghiệp chây ỳ, né tránh việc niêm yết, đăng ký giao dịch sẽ được khắc phục mà không cần phải có các chế tài hoặc thực hiện các biện pháp cưỡng chế thực thi khác. Thực tế cho thấy, các giải pháp cưỡng chế thực thi chưa chắc đã hiệu quả.
Với quy định mới này, phương thức cổ phần hóa ở Việt Nam đã đến gần hơn với thông lệ quốc tế. Theo đó, IPO phải gắn với giao dịch trên sàn chứng khoán. Khi nộp hồ sơ đăng ký IPO, doanh nghiệp phải đưa ra kế hoạch niêm yết cổ phần chào bán trên sàn chứng khoán và khi được chấp thuận tiến hành IPO cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã được chứng nhận niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán mà họ chọn.
Bên cạnh đó, quy định này cũng bám sát tiến trình cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ. Trước đây, doanh nghiệp trải qua 4 giai đoạn nộp hồ sơ khác nhau từ đấu giá, đăng ký công ty đại chúng, lưu ký chứng khoán và đăng ký giao dịch. Với Thông tư 115/2016, doanh nghiệp sẽ chỉ phải hoàn thiện một bộ hồ sơ duy nhất gửi đồng thời cho Sở GDCK nơi tổ chức đấu giá, VSD và HNX. Sau khi có kết quả thanh toán, Sở GDCK nơi tổ chức đấu giá sẽ chuyển kết quả trực tiếp cho VSD và HNX, theo đó, các cơ quan này sẽ tự động thực hiện các công việc tiếp theo theo quy định để đưa cổ phiếu lên giao dịch.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn thanh toán tiền mua cổ phần trúng đấu giá, Sở GDCK (nơi tổ chức đấu giá) gửi Trung tâm Lưu ký chứng khoán (VSD), Sở GDCK Hà Nội (HNX) văn bản thông báo giá thanh toán bình quân kèm danh sách người sở hữu cổ phần trúng đấu giá đã được thanh toán. 
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn thanh toán tiền mua cổ phần trúng đấu giá, Sở GDCK (nơi tổ chức đấu giá) gửi Trung tâm Lưu ký chứng khoán (VSD), Sở GDCK Hà Nội (HNX) văn bản thông báo giá thanh toán bình quân kèm danh sách người sở hữu cổ phần trúng đấu giá đã được thanh toán.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn thanh toán tiền mua cổ phần trúng đấu giá, doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) và công bố thông tin về kết quả bán cổ phần kèm theo xác nhận của ngân hàng thương mại nơi mở tài khoản phong tỏa về số tiền thu được từ đợt đấu giá.
Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả bán đấu giá cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hóa, UBCK gửi thông báo xác nhận kết quả bán đấu giá cho doanh nghiệp cổ phần hóa, HNX và VSD.
Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo xác nhận kết quả bán đấu giá của UBCK, HNX đưa cổ phần vào giao dịch trên UPCoM với giá tham chiếu cho ngày giao dịch đầu tiên là giá thanh toán bình quân qua đấu giá.

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

Ông Bùi Kiến Thành: Đổi nợ xấu thành cổ phần, quá lạ lùng

Nợ xấu như những ung nhọt, có khả năng chuyển biến thành ung thư nhưng hoán đổi nợ xấu thành cổ phần doanh nghiệp không khiến nợ xấu biến mất.

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra lấy ý kiến Dự thảo hướng dẫn việc góp vốn, mua cổ phần của các tổ chức tín dụng. Trong Dự thảo trên, có đề cập tới việc hoán đổi nợ xấu thành cổ phần của các doanh nghiệp. Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành đã có những góp ý thẳng thắn về nội dung này. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết của ông.
Theo nguyên tắc, việc hoán đổi nợ thành cổ phần nằm trong phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp. Việc hoán đổi nợ thành cổ phần hoàn toàn phụ thuộc vào sự cân nhắc đầu tư của chủ nợ và trong nhiều trường hợp, ngay trong các thỏa thuận khi vay nợ, việc hoán đổi nợ thành cổ phần đã được đề cập đến.
Tôi lấy ví dụ trường hợp chuyển đổi trái phiếu thành cổ phần. Khi đưa ra quyết định hoán đổi, người sở hữu trái phiếu có thể thấy đầu tư dưới dạng cổ đông ở doanh nghiệp sẽ có lợi hơn chỉ đơn thuần nhận lãi từ khoản trái phiếu đã mua; hoặc người sở hữu trái phiếu có những tính toán khác nhằm tới lợi ích lâu dài hơn.
Tuy nhiên, muốn làm được như vậy, ngay khi phát hành và bán trái phiếu, đã phải có thỏa thuận người sở hữu trái phiếu được quyền lựa chọn chuyển hay không chuyển sang cổ phần.
Lý thuyết là vậy, bây giờ chúng ta sẽ bàn tới nội dung hoán đổi nợ xấu trong Dự thảo Hướng dẫn việc góp vốn, mua cổ phần của các tổ chức tín dụng đang được Ngân hàng Nhà nước đưa ra lấy ý kiến.
Dự thảo đưa ra quy định, các tổ chức tín dụng được thực hiện hoán đổi nợ thành vốn góp, mua cổ phần, nhưng phải đảm bảo các điều kiện: chỉ được thực hiện đối với nợ thuộc nhóm 5 hoặc nợ đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro; tổng mức góp vốn, mua cổ phần dưới mọi hình thức không vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của ngân hàng thương mại, không vượt quá 60% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của công ty tài chính*.
Có thể thấy ngay, nợ được hoán đổi theo Dự thảo Thông tư hướng dẫn nói trên là nợ xấu, thuộc nhóm 5 hoặc nợ đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro. Theo Thông tư 15/2010/TT-NHNN, nợ nhóm 5 là nợ có khả năng mất vốn, phải trích lập dự phòng rủi ro 100%. Vì thế, cần thiết phải đặt ra các câu hỏi:
Câu hỏi 1: Tổ chức tín dụng dùng nguồn tiền nào để tạo ra nợ xấu?
Thoạt nghe về chuyện hoán đổi nợ xấu lấy cổ phần, dư luận có thể bị nhầm lẫn, tổ chức tín dụng không cần dùng tiền để thực hiện việc hoán đổi này. Họ chỉ lấy nợ đổi thành cổ phần hay nói cách khác, lấy tờ giấy này đổi thành một tờ giấy khác.
Nhưng nếu vậy, nguồn tiền (mà hiện đã biến thành nợ xấu), tổ chức tín dụng đã huy động từ đâu? Trong trường hợp, tổ chức tín dụng muốn thực hiện hoán đổi từ nợ xấu thành cổ phần, trách nhiệm trả lại khoản tiền (đã biến thành nợ xấu) cho các chủ tài khoản gửi tiền ở ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng sẽ được thực hiện như thế nào?
Dự thảo thông tư có đề cập, tổng mức góp vốn không vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của ngân hàng thương mại, không vượt quá 60% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của công ty tài chính. Qua đó, người dân có thể hiểu, ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng chỉ được dùng tiền trong phạm vi vốn điều lệ và quỹ dự trữ, nghĩa là, dùng tiền của chính họ chứ không phải tiền huy động được của các cá nhân, tổ chức trong xã hội.
Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại nhỏ và trung bình có còn vốn điều lệ hay không? Theo số liệu vào tháng 9/2015, tổng vốn điều lệ của 36 ngân hàng thương mại tại thời điểm đó xấp xỉ 310.000 tỷ đồng, trong đó, nhóm 12 ngân hàng cuối bằng có tổng vốn điều lệ chỉ xấp xỉ vốn 40.000 tỷ. Trong khi đó, báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2016 cho biết, VAMC đã mua 241.000 tỷ đồng nợ xấu. Nếu cộng lại những khoản nợ xấu giao cho VAMC và lỗ lũy kế thì gần như chắc chắn, nợ xấu của các ngân hàng thương mại vừa và nhỏ đã vượt quá vốn điều lệ.
Xin được nói thêm rằng, Nhà nước đã tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại hoạt động bình thường bằng cách thành lập VAMC, tạm giữ nợ xấu của hệ thống tín dụng trong vòng 5 năm, phát hành trái phiếu đặc biệt để các ngân hàng thương mại có thể vay tái cấp vốn tiếp tục hoạt động bình thường và thực hiện yêu cầu trích lập dự phòng rủi ro 20% mỗi năm. Nếu các ngân hàng thương mại làm được như vậy, sau 5 năm, các ngân hàng thương mại đã giải quyết xong nợ xấu.
Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện việc này đã không nghiêm túc, nhiều ngân hàng không trích lập dự phòng rủi ro theo quy định và Ngân hàng Nhà nước cũng đã không nghiêm khắc thực hiện yêu cầu này.
Tại phiên họp toàn thể của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội ngày 7/10 vừa qua, khi đại diện Ngân hàng Nhà nước cố thuyết phục các thành viên ủy ban rằng tỷ lệ nợ xấu hiện nay ở ngưỡng an toàn (2.66%), Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đã hỏi thẳng: “Về xử lý nợ xấu của ngân hàng, đồng chí nói nợ xấu 2,98% đó là nợ mới thôi, còn 200.000 tỉ đồng nợ cũ thì sao”.
Đến thời điểm hiện tại, khi việc đưa nợ xấu về VAMC đã không đạt được hiệu quả mong muốn, Ngân hàng Nhà nước lại đặt ra phương thức ngược lại, chuyển nợ xấu từ VAMC về các doanh nghiệp làm ăn thất bát đang là con nợ của ngân hàng bằng cách hoán đổi nợ xấu thành cổ phần của doanh nghiệp.
Thế nhưng, khi ngân hàng thương mại đã không còn vốn điều lệ để hoạt động thì nó lấy tiền ở đâu để mua lại nợ xấu, sau đó tiếp tục hoán đổi thành cổ phần tại các doanh nghiệp? Chẳng lẽ Ngân hàng Nhà nước đang hướng dẫn ngân hàng thương mại tiếp tục lấy tiền huy động của người dân để hoán đổi thành cổ phần các doanh nghiệp làm ăn thất bát, nghĩa là đặt tiền tích lũy của người dân vào một cuộc chơi rủi ro khác? Điều này Ngân hàng Nhà nước nhất thiết phải làm rõ.
Câu hỏi 2: Hoán đổi nợ xấu thành cổ phần doanh nghiệp với giá nào?
So với thế giới, nợ xấu của Việt Nam có đặc điểm là đa số được bảo đảm bằng tài sản thế chấp. Khi mua nợ xấu của các ngân hàng thương mại, do không thể thống nhất trong việc định giá tài sản thế chấp, VAMC mua nợ xấu với giá trị trên sổ sách. Trong khi đó, rất nhiều trường hợp, tài sản thế chấp được định giá vượt mức giá trị thật nên ngân hàng thương mại cho vay không phải 50% giá trị tài sản thế chấp mà lên tới 100%, thậm chí 200%.
Vậy khi ngân hàng thương mại dùng số nợ xấu đó để mua cổ phần, ngân hàng thương mại định giá giá trị số nợ xấu ấy và tài sản thế chấp đó như thế nào?
Nếu xét từ quyền lợi người gửi tiền (vì quyết định sai lầm của ngân hàng thương mại, hoặc cố ý vi phạm các quy định của luật pháp, mà số tiền gửi đó biến thành nợ xấu), ngân hàng thương mại phải định giá theo giá trị sổ sách để thu hồi đủ tiền trả lại các chủ tài khoản. Nếu xét từ quyền lợi của đối tác (doanh nghiệp bán cổ phần để đổi nợ xấu), số nợ xấu phải được định giá theo đúng giá thị trường.
Trong khi đó, bản thân quy định nợ xấu nhóm 5 của Ngân hàng Nhà nước đã chứng minh, giá trị thị trường của nó bằng 0. Người ta không thể phù phép một thứ không giá trị để trao đổi với bất cứ loại cổ phần nào.
Từ phía ngân hàng thương mại, hoán đổi nợ xấu thành cổ phần doanh nghiệp, nghĩa là, ngân hàng thương mại buộc phải chọn đầu tư vào những doanh nghiệp không có khả năng trả nợ, phải cầm cố tài sản nơi họ. Vậy họ sẽ chấp nhận mua cổ phần doanh nghiệp với giá bao nhiêu?
Theo Luật Doanh nghiệp, khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, không thể trả nợ ngân hàng thì được liệt vào dạng doanh nghiệp phá sản, cổ phần của các doanh nghiệp này có giá trị chỉ ngang… giấy vụn.
Trong trường hợp khả quan hơn, những doanh nghiệp đã tái cơ cấu, ăn nên làm ra, liệu họ có sẵn sàng đổi cồ phần của họ để lấy những tài sản cầm cố mà chính họ đã từ chối không nhận về hay không? Mặt khác, cổ phần của họ được định giá bao nhiêu khi tính cả số nợ cũ? Có bao nhiêu trường hợp khi đã tính toán đầy đủ, cổ phần của họ vẫn còn có giá trị? Như vậy, chẳng lẽ, nợ xấu giá trị bằng 0, đổi lấy cổ phần bằng 0 hay sao?
Câu hỏi 3: Đổi nợ xấu lấy cổ phần có giải quyết được nợ xấu?
Như đã phân tích ở trên, nếu áp dụng phương thức xử lý nợ xấu bằng cách hoán đổi thành cổ phần của doanh nghiệp, đồng nghĩa, nợ xấu từ VAMC sẽ chuyển trở lại doanh nghiệp với hình thức góp vốn cổ phần. Doanh nghiệp sẽ làm gì để biến số nợ xấu đó thành tài sản thật?
Về phía ngân hàng, họ sẽ thu hồi tài sản qua doanh nghiệp theo cách nào, nếu doanh nghiệp không được tiếp thêm sinh lực, ăn nên làm ra nhờ phần góp vốn của họ? Nếu như vậy, vẫn không có tiền trả lại cho các chủ tài khoản đã gửi ở ngân hàng thương mại, nghĩa là nợ xấu chưa được giải quyết triệt để. Nói cách khác, trong trường hợp này, nợ xấu chỉ chuyển từ nơi này sang nơi khác, chuyển từ hình thức này sang hình thức khác.
Vậy làm thế nào để xử lý dứt điểm nợ xấu của các ngân hàng thương mại? Chúng ta đã bỏ qua cơ hội xóa sạch nợ xấu bằng cách trích lập dự phòng rủi ro với sự hỗ trợ của VAMC, vậy thì chính Ngân hàng Nhà nước phải xắn tay vào trực tiếp giải quyết?
Trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước tái cơ cấu các Ngân Hàng Đại dương, Ngân hàng Xây dựng, bằng phương án mua lại toàn bộ cổ phần với giá bằng 0 đồng và tiếp tục cho các ngân hàng này hoạt động. Nhưng không thấy nói gì đến việc xử lý các nợ xấu của các ngân hàng này. Ngân hàng Nhà nước trở thành chủ sở hữu 100% cổ phần, vậy Ngân hàng Nhà nước có lãnh 100% trách nhiệm trả lại cho các chủ tài khoản số tiền mà ngân hàng đả biến thành nợ xấu? Nếu như vậy Ngân hàng Nhà nước lấy đâu ra tiền để trả lại cho các chủ tài khoản? Tuy không nói ra, nhưng ta có thể ngầm hiểu rằng Ngân hàng Nhà nước sẽ trích lập dự phòng trên các lợi nhuận phát sinh của các ngân hàng này để thanh lý nợ xấu đối với các chủ tài khoản.
Nếu đây là phương án được lựa chọn và nếu Ngân hàng Nhà nước thực hiện tốt việc tái cơ cấu Ngân hàng Đại dương, Ngân hàng Xây dựng, không có lẽ gì, họ không thể tiếp tục áp dụng theo cách đó với các ngân hàng thương mại yếu kém khác.
Chúng ta không biến hệ thống ngân hàng thương mại thành công cụ của ngân hàng Trung ương nhưng vẫn tiếp tục cho nó hoạt động tạm thời dưới sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước. Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước thể hiện vai trò của Ngân hàng Trung ương, tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại yếu kém để nó duy trì hoạt động, cho doanh nghiệp vay với lãi suất hợp lý để doanh nghiệp có thể tồn tại, phát triển và trả nợ. Khi nào các ngân hàng yếu kém hoạt động tốt, và các nợ xấu đả được xử lý, thì Ngân hàng Nhà nước có thể bán lại cho các tổ chức, cá nhân.
Song song với đó, Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ các ngân hàng thương mại đang khó khăn nhưng vẫn có cơ hội phát triển. Nếu họ không huy động được vốn để cho vay với lãi suất hợp lý, Ngân hàng Trung ương có thể cho vay, tái cấp vốn cho các ngân hàng này. Quan trọng là Ngân hàng Nhà nước phải giám sát thật, áp dụng nghiêm túc kỷ luật trong vận hành hoạt động của cả hệ thống ngân hàng thương mại, không để cho các ngân hàng thương mại hoạt động thiếu nghiêm túc, làm phát sinh thêm nợ xấu. Điều kiện thiết yếu là các ngân hàng này phải cam kết thiết lập dự phòng trên các lợi nhuận phát sinh để trả lại cho các chủ tài khoản các số tiền đã biến thành nợ xấu.
Tóm lại, vẫn có giải pháp để xử lý dứt điểm nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại nhưng có làm được hay không lại phụ thuộc vào nhân sự, chính sách, các vấn đề tiêu cực tham nhũng… Nợ xấu đang tồn tại ở hệ thống ngân hàng thương mại như những ung nhọt, có khả năng chuyển biến thành ung thư nên xem ra, chúng ta cũng không còn nhiều lựa chọn.
* Trích dẫn từ bản tin ''Ngân hàng có thể đổi nợ xấu nhất thành vốn góp'' đăng tải trên Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 3/10/2016

Cổ phiếu của nhiều start-up tại Việt Nam được mua với giá từ vài trăm nghìn đến vài triệu đồng

4 triệu đồng cho 1 cổ phiếu Vexere.com, 2 triệu đồng cho 1 cổ phiếu Topica, gần 700 nghìn đồng cho 1 cổ phiếu VNG... Giá cổ phiếu của các start-up gợi nhớ lại một thời kỳ oanh liệt của TTCK Việt Nam giai đoạn sơ khai 10 năm trước.

Trong số hơn 700 doanh nghiệp đang niêm yết trên sàn chứng khoán, chỉ có hơn chục cổ phiếu có thị giá trên 100.000 đồng, chủ yếu là cổ phiếu của các doanh nghiệp tên tuổi đầu ngành như Vinamilk, Dược Hậu Giang, Nhựa Bình Minh, Thiên Long…
Tuy nhiên, trong thế giới của các start-up Việt Nam, mức giá vài trăm nghìn đồng thậm chí lên đến vài triệu đồng – tức gấp tới cả 100 lần mệnh giá lại không phải là chuyện hiếm.
Theo tìm hiểu của CafeF, trong năm 2014, một công ty quản lý quỹ đầu tư trong nước nhận ủy thác của một quỹ nước ngoài đã chi ra tới 2,1 tỷ đồng chỉ để mua 1.112 cổ phiếu của startup Vexere.com, tương ứng giá mua lên đến 1.900.000 đồng/cp.
1,9 triệu đồng/cp cũng là mức giá năm 2014 của CTCP Đầu tư và Phát triển Đào tạo E.D.H – công ty sở hữu 99,9% cổ phần của Tổ hợp công nghệ giáo dục Topica.
Sang năm 2015, khi công ty quản lý trên mua thêm 2.222 cổ phiếu Vexere cho khách hàng của mình, số tiền phải chi ra đã lên đến 8,54 tỷ đồng, tương ứng 3.841.000 đồng/cp – gấp đôi so với năm trước đó.
Việc Vexere.com và E.D.H có mức giá cổ phiếu lên đến hàng triệu đồng một phần vì các doanh nghiệp này có vốn điều lệ khá nhỏ. Hiện Vexere chỉ có vốn điều lệ 133 triệu đồng - tương ứng số cổ phiếu đang lưu hành chỉ có 13.334 cổ phiếu hay vốn điều lệ của E.D.H chỉ có 2,5 tỷ đồng.
Vốn điều lệ “siêu nhỏ”, chỉ từ vài ba tỷ đến chục tỷ đồng cũng là đặc điểm chung của hầu hết các start-up tại Việt Nam. Vốn nhỏ dẫn đến lượng cổ phiếu “cô đặc” chính vì vậy nhiều start-up có triển vọng không quá khó để bán cổ phiếu với giá gấp vài chục lần mệnh giá cho các quỹ đầu tư.
Trong năm 2015, quỹ đầu tư CyberAgent của Nhật Bản đã thoái một phần vốn khỏi start-up Foody với mức giá xấp xỉ 300.000 đồng/cp và mua vào cổ phiếu của CTCP So sánh Việt Nam (Websosanh) với giá 284.000 đồng/cp.
Năm 2016 cũng có một số thương vụ đình đám như SCPE đầu tư vào ví điện tử Momo hay VNG đầu tư vào trang thương mại điện tử Tiki.
Quỹ đầu tư SCPE thuộc ngân hàng Standard Chartered đã chi ra 25 triệu để mua 20% cổ phần của Momo; tương ứng Momo được định giá lên đến 125 triệu USD – trở thành một trong những công ty công nghệ đắt giá nhất Việt Nam. Mức giá mà SCPE trả là gần 360.000 đồng/cp.
CTCP VNG – doanh nghiệp game online lớn nhất Việt Nam đã chi 384 tỷ đồng để mua 38% cổ phần của trang thương mại điện tử Tiki.vn với mức giá 103.442 đồng/cp. Tại mức giá này, vốn hóa của Tiki đạt hơn 1.000 tỷ đồng (45 triệu USD) – tăng gấp 4 lần so với năm 2013.
Bản thân VNG cũng là một trong những công ty công nghệ có giá cao nhất hiện nay. Tháng 3/2015, VNG đã chào bán thành công lượng cổ phiếu có mệnh giá 2,9 tỷ đồng thu về hơn 194 tỷ đồng – tương ứng giá phát hành 666.000 đồng/cp. VNG cũng có kế hoạch mua lại cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ với giá 542.000 đồng/cp. Với các mức giá này, giá trị của VNG dao động trong khoảng từ 15.000-18.000 tỷ đồng.
Khi lên sàn vào cuối năm 2006, cổ phiếu FPT từng có giá hơn 600.000/cp. Tuy nhiên, sau nhiều biến động của thị trường cũng như chia thưởng cổ phiếu, hiện cổ phiếu FPT chỉ còn quanh mức 45.000 đồng.
Hiện vốn hóa của FPT đạt 20.000 tỷ đồng, nhỉnh hơn một chút so với mức 19.700 tỷ đồng của Thế giới Di động. Giá trị của Thế giới Di động đã tăng gần gấp 4 lần so với khi lên sàn cách đây 2 năm.